(TuanVietNam) - Nhìn vào các con số thống kê về lạm phát ở ta trong 5 năm trở lại đây, điều đáng lo ngại hơn là trong 5 năm ấy, chỉ có một năm-năm 2009, CPI tháng 12 so với tháng 12 của năm trước tăng 6,5% còn các năm còn lại đều ở mức trên 2 con số.

Tuần này, Chính phủ sẽ dành phiên họp thường kì để bàn chuyên sâu về các giải pháp chống lạm phát và bình ổn kinh tế vĩ mô. Tuần Việt Nam nhìn lại lạm phát Việt Nam trong 5 năm qua.

Dường như người dân và doanh nghiệp đã quen dần với  lạm phát cao (!?)  bởi năm nay, cho đến tháng 9, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng so với tháng 12 năm trước đã là 16,63%-khả năng kiềm chế được tốc độ tăng CPI cả năm là 18% cũng đã trở lên rất khó khăn. Mức tăng này, nếu chỉ so với tốc độ tăng CPI của các nước láng giềng: Thái Lan, Malaysia, Singapore...đã rất đáng ngại. Nhưng nếu nhìn vào các con số thống kê về lạm phát ở ta trong 5 năm trở lại đây, điều đáng lo ngại hơn là trong 5 năm ấy, chỉ có một năm-năm 2009, CPI tháng 12 so với tháng 12 của năm trước tăng 6,5% còn các năm còn lại đều ở mức trên 2 con số. Cụ thể, năm 2007: CPI tăng 12,6%, năm 2008 tăng 19,9%, năm 2010 tăng 11,8%. Năm nay nếu kiềm chế được ở mức 18% như chỉ tiêu đề ra sẽ là  một sự may mắn.

Theo số liệu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nếu so sánh với lạm phát ở các nước trên thế giới và trong khu vực, tốc độ tăng CPI bình quân trong các năm 2007-2010 của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tuơng ứng là 6,5%; 9,2%;5,2% và 6,2%. Tốc độ tăng CPI bình quân của các nước đang phát triển châu Á tương ứng là 5,4%; 7,4%; 3,1%; 6%. Còn nếu so với các nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng CPI bình quân qua các năm đó của họ là: 2,2%; 3,4%; 0,1% và 1,6% vào năm 2010 thì quả thực, mức tăng CPI của Việt Nam những năm qua là một kỷ lục và thật xấu hổ khi luôn lấy yếu tố tác động giá cả, thị trường bên ngoài là một yếu tố chính để giải thích mức độ tăng CPI của Việt Nam.

Gần đây người ta hay viện dẫn cách tính lạm phát cơ bản để làm "giảm nhiệt" về cách tính lạm phát theo phương pháp luận quốc tế, phản ánh xu hướng và mức độ biến động chung của giá tiêu dùng thực tế trên thị trường mà Tổng cục Thống kê đã áp dụng. Kết quả tính toán của Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Tổng cục Thống kê cho biết, lạm phát cơ bản tháng 12 năm 2010 so với tháng 12 năm trước, nếu loại trừ lương thực, thực phẩm là 9,92% bằng 84% mức lạm phát chung.

Nếu loại trừ thêm năng lượng thì lạm phát cơ bản bằng 9,81% bằng 83% mức lạm phát chung. Lạm phát cơ bản của tháng 8.2011 so với tháng 12.2010 loại trừ lương thực, thực phẩm còn 12,54%; loại thêm yếu tố năng lượng sẽ còn 10,94%... Nếu như loại trừ thêm các yếu tố phi tiền tệ khác như điều chỉnh giá của nhà nước với một số mặt hàng, dịch vụ quan trọng, thiên tai, dịch bệnh...thì người ta có thể vui mừng công bố các mức lạm phát cơ bản ở mức thấp hơn nữa.

Trong một báo cáo về nguyên nhân tình hình lạm  phát cao trong những năm gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), bộ này ghi nhận đúng thực tế nêu trên và đã đưa ra phân tích những nguyên nhân chủ yếu giải thích mức lạm phát quá cao trong suốt mấy năm qua.

Cụ thể, theo bộ này, về chính sách tiền tệ, tín dụng, cung tiền trong những năm qua có sự "nới lỏng quá mức" là một nguyên nhân chính. Tốc độ tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế diễn ra trong một thời gian dài. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ (M2) là 43,7%, tín dụng là 53,9% trong năm 2007-mức tăng kỷ lục giai đoạn 2001-2011 được bộ này cho là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008.

Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức như trên lại lặp lại tuy tốc độ có thấp hơn 2007 nhưng vẫn cao hơn mức cần thiết đã gây ra hệ quả là lạm phát năm 2010 và 2011 tiếp tục bị đẩy lên cao. Chính sách siết chặt tiền tệ, tài khóa khắc nghiệt từ đầu năm 2011 đến nay đã có tác dụng làm tốc độ lạm phát (đạt đỉnh vào tháng 4.2011) đã giảm dần cho đến nay (tháng 9, CPI tăng thấp nhất ở mức 0,82%).

Việc phá giá mạnh VNĐ trong các năm gần đây cũng có phần gây ra lạm phát và kỳ vọng lạm phát. Điều dễ thấy là trong mấy năm qua, đồng đôla Mỹ luôn bị mất giá so với các đồng tiền khác trên thế giới nhưng ở Việt Nam, tiền đồng lại giảm giá so với đồng USD là một hiện tượng thực tế.

Chính sách tài khóa, theo Bộ KH&ĐT cũng là một nguyên nhân chính giải thích hiện tượng lạm phát cao và kéo dài nhiều năm. Bội chi ngân sách từ năm 2006 đến nay đều ở mức trên 5% GDP (trừ năm 2008 đạt 4,6%) nhưng nếu tính cả trái phiếu Chính phủ vào thì tỷ lệ bội chi ngân sách thực tế còn cao hơn rất nhiều. Bội chi ngân sách triền miên đòi hỏi huy động nhiều vốn trong dân qua việc phát hành trái phiếu, tín phiếu kho bạc...ảnh hưởng đến thị trường, đẩy lãi suất lên, góp phần làm tăng tổng cầu, gây áp lực lên mặt bằng giá.

Tất nhiên, mức độ lạm phát rất cao như vậy cũng có ảnh hưởng lớn từ chi phí sản xuất tăng hay còn gọi là "chi phí đẩy": phần thì do tác động của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới, phần so giá đầu vào trong nước...

Yếu tố khách quan tất nhiên là không tránh khỏi: năm 2008, giá nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu tăng bình quân 27,1%, theo phân tích của Bộ KH&ĐT làm tăng CPI bình quân ở Việt Nam lên 22,97%. Năm 2010, chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng bình quân 9,59%. 6 tháng đầu năm, chỉ số này cũng tăng bình quân 18,32% do với cùng kỳ năm 2010...thì tất cả các yếu tố này tác động đến giá cả Việt Nam là một thực tế phải chấp nhận.

Đáng chú ý, theo Bộ KH&ĐT, nguyên nhân về cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư cũng lý giải cả một quãng thời gian dài gần 5 năm, lạm phát ở ta luôn ở mức cao. Theo bộ này, cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư bất hợp lý và kém hiệu quả là nguyên nhân cơ bản gây bất ổn định các cân đối kinh tế vĩ mô và là yếu tố thúc đẩy lạm phát tăng cao. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, tỷ trọng các yếu tố năng suất tổng hợp trong tăng trưởng GDP thấp và chậm được cải thiện. Hiệu quả đầu tư thấp, đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, cơ cấu đầu tư bất hợp lý giữa các vùng, miền...Hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thấp. Tất cả đều có tác động sâu xa đến lạm phát.

Ngoài những nguyên nhân được cho là cơ bản trên, Bộ KH&ĐT cũng cho rằng, có một số nguyên nhân khác dẫn đến lạm phát của Việt Nam cao hơn các nước. Có nguyên nhân về khâu phân phối, điều hành thị trường: hệ thống phân phối yếu kém, bất hợp lý; có nguyên nhân do thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều: dịch lợn tai xanh, gia súc gia cầm...gây thiếu hụt nguồn cung, đẩy giá lên cao...rồi khả năng, nguồn lực dự trữ yếu...tất cả đều có ảnh hưởng nhất định, làm lạm phát cao, kéo dài triền miên.

Bộ KH&ĐT cũng đã  kiến nghị 12 biện pháp đề kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Đáng chú ý, bộ này đề nghị tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ nhưng bảo đảm hỗ trợ vốn tín dụng cho các nhu cầu thiết yếu nhất trong sản xuất, kinh doanh trước hết là cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, phát triển điện, xuất khẩu...

Bộ này cũng đền ghị tăng cường quản lý thị trường vàng, thị trường ngoại tệ; cơ cấu lại các ngân hàng thương mại...

Ngoài ra, Bộ KH&ĐT  còn đưa ra các giải pháp dài hạn như sớm quyết liệt thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu đầu tư để cải thiện các cân đối kinh tế vĩ mô, giảm thâm hụt ngân sách nhà nước, đảm bảo dư nợ công, dư nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn; giảm dần tỷ lệ đầu tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội...

Mạnh Quân