Ở đáy làn, tôi tìm thấy mảnh giấy ghi bằng nét chữ run run: “Bà bán đàn gà được ít tiền, cháu cầm mua sách. Chăn gối bà giặt sạch rồi, không hôi đâu”. Đêm ấy, tôi ôm bộ chăn gối, nước mắt rơi không ngừng.
Từ nhỏ tôi đã sống với bà ngoại. Sau này lớn hơn một chút, nghe người làng kể lại, tôi mới chắp nối được hoàn cảnh của mình. Bố tôi từng phạm tội nặng, phải chịu án tù chung thân. Bị nhà nội chối bỏ, mẹ tôi bụng mang dạ chửa về nương nhờ bà ngoại rồi sinh ra tôi, sau đó vào trong Nam làm công nhân.
Những năm đầu, mẹ còn gửi tiền về mua sữa, tã. Nhưng rồi tiền chẳng thấy, những cuộc điện thoại cũng thưa dần rồi mất liên lạc hẳn. Từ đó, trong căn nhà cấp bốn cũ kỹ chỉ còn hai bà cháu, một đàn gà và đôi lợn nái.
Bà ngoại không có ruộng. Đến mùa, bà đi cấy thuê, gặt thuê cho người ta. Hết việc đồng, bà lại đẩy chiếc xe cũ đi khắp xóm trên làng dưới nhặt đồng nát. Phía sau xe lúc nào cũng buộc hai chiếc thùng nhựa dùng để xin nước gạo - thứ nước hỗn hợp từ cơm thừa canh cặn, rau bỏ đi của các gia đình, về nuôi lợn.
Tôi học khá, năm nào cũng có giấy khen. Mỗi lần nghe giáo viên khen tôi thông minh, bà vui hơn cả nhặt được cân sắt vụn. Bà từng bảo: “Cháu cứ dốc sức mà học để sau này thoát nghèo. Việc khác đã có bà lo”.
Quả thật, bà cho tôi ăn học tươm tất chẳng kém bạn bè. Tôi cũng tranh thủ ngoài giờ học phụ bà việc nhà, từ cơm nước, dọn dẹp đến cho gà ăn, thái rau chuối. Chỉ có một việc tôi luôn tìm cách trốn, đó là đổ những thùng nước gạo bà xin về vào nồi cám lợn. Tôi sợ thứ nước ám mùi chua, vẩn đục ấy.
Tôi từng ám ảnh với mùi nước gạo bà xin về để nuôi lợn. Ảnh minh hoạ
Có lần đang xách thùng, tôi trượt chân, thứ nước ấy sóng sánh tràn xuống dép. Tôi nôn đến đỏ mắt rồi quẳng chiếc dép ngoài sân, nhất quyết không đi lại nữa.
Bước vào cấp ba, tôi bắt đầu biết xấu hổ. Trong khi đồng phục của các bạn luôn thơm mùi xà phòng, tóc thoang thoảng hương dầu gội, còn tôi lúc nào cũng cảm thấy trên người phảng phất mùi chua.
Cho rằng mùi ấy ám từ bà sang, tôi đòi bà ngủ riêng. Mỗi khi bà lại gần, tôi cũng thường kiếm cớ đứng dậy hoặc nhích ra xa, còn chê "người bà hôi lắm". Vài ngày sau, bà đi chợ huyện, mua về mấy cục xà phòng thơm, gói riêng trong túi nilon rồi dặn tôi chỉ dùng để giặt quần áo đi học.
Từ đó, bà cũng không ngồi lên giường tôi nữa. Trước khi bước vào phòng, bà thường đứng ở cửa, kéo vạt áo lên ngửi rồi mới gọi cháu.
Năm tôi đỗ đại học ở Hà Nội, bà bán hai con lợn béo nhất để đóng học phí và mua cho tôi chiếc xe đạp cũ. Ngày đưa tôi ra bến xe, bà chỉ đứng từ xa...
Cuộc sống sinh viên cùng những buổi làm thêm khiến tôi ít về quê. Một ngày gần cuối năm học, bác bảo vệ ký túc xá gọi điện báo có người thân gửi đồ. Vừa bước vào phòng bảo vệ, tôi đã nhận ra chiếc làn nhựa cũ của bà. Bên trong có gạo, lạc rang, chục trứng gà được bọc cẩn thận, phong bì đựng hơn 2 triệu đồng cùng bộ chăn gối và bốn bánh xà phòng thơm quen thuộc.
Tôi gọi điện về quê nhưng bà không nghe máy. Bác bảo vệ kể bà đã đứng ngoài cổng ký túc xá gần 3 tiếng chờ tôi tan học, nhất quyết không vào trong ngồi vì sợ quần áo có mùi cám lợn, ám vào đồ đạc. Bà không biết hôm ấy lịch học của tôi thay đổi. Chờ mãi không gặp, bà gửi lại chiếc làn rồi vội ra bến bắt chuyến xe cuối cùng về quê.
Ở đáy làn, tôi tìm thấy mảnh giấy ghi bằng nét chữ run run: “Bà bán đàn gà được ít tiền, cháu cầm mua sách. Chăn gối bà giặt sạch rồi, không hôi đâu”.
Đêm ấy, tôi ôm bộ chăn gối, nước mắt không ngừng rơi.
Sáng hôm sau được nghỉ học, tôi bắt chuyến xe sớm nhất về quê. Thấy bà đang lúi húi bên chuồng lợn, tôi chạy đến ôm chầm lấy tấm lưng đã còng xuống vì năm tháng. Bà giật mình, cuống quýt gỡ tay tôi: “Tránh ra, bà đang bẩn. Áo cháu lại ám mùi bây giờ”.
Tôi càng ôm chặt hơn, vừa khóc vừa nói lời xin lỗi đáng lẽ phải nói từ lâu. Bà không trách, chỉ lau nước mắt cho tôi rồi cười: “Biết thương bà thì cố mà học, bà chẳng cần gì hơn”.
Sau này khi tốt nghiệp, tôi tìm được việc ở Hà Nội, tự mua được nhà rồi đón bà lên sống cùng. Thỉnh thoảng bà cũng về quê quét dọn vườn tược cho đỡ nhớ nhưng bà bảo, được sống cùng cháu mới là niềm vui lớn nhất.
Cuối năm nay tôi sẽ lấy chồng. Điều may mắn nhất là bà vẫn khỏe mạnh để chứng kiến ngày đứa cháu bà nuôi khôn lớn lập gia đình. Mùa Vu Lan này, tôi đưa bà đi chọn vải may áo dài. Bà tiếc tiền bảo mặc bộ nào cũng được, còn tôi nhất định muốn may chiếc áo đẹp nhất, sang trọng nhất cho xứng với bà.
Giữa phố đông, bà bật cười, bàn tay gầy guộc nắm chặt tay tôi. Bao năm đã qua, tôi vẫn không quên mùi những thùng nước gạo cũ, chỉ khác rằng đó không còn là thứ mùi khiến tôi quay mặt tránh đi. Với tôi, đó là mùi của tuổi thơ, của sự hy sinh và tình thương không đòi hỏi được đáp lại. Đó cũng là thứ mùi đã nuôi tôi khôn lớn thành người.
BĐ Quỳnh Lam
Vu Lan không chỉ là mùa của những bông hồng cài áo, mà còn là mùa của những nỗi nhớ. Nhớ một dáng mẹ tảo tần, một bóng cha lặng lẽ, một mái nhà xưa và những người thân nay chỉ còn hiện diện trong ký ức.
Báo VietNamNet mở diễn đàn Mùa Vu Lan - Thương nhớ mẹ cha. Mỗi câu chuyện được sẻ chia là một nén tâm hương, một lời tri ân gửi đến đấng sinh thành - những người đã dành cả cuộc đời để yêu thương và chở che ta.