Dù Mỹ và châu Âu ráo riết dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc, các tập đoàn toàn cầu 'ngậm ngùi' nhận ra: Xây một nhà máy ở nơi khác thì dễ nhưng tái tạo cả hệ sinh thái sản xuất độc tôn của Bắc Kinh gần như bất khả thi.
Năm 1979, khi mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc ban hành Luật Doanh nghiệp liên doanh với mục tiêu rõ ràng: thu hút vốn, thiết bị và công nghệ tiên tiến từ bên ngoài. Hơn 4 thập kỷ sau, quốc gia từng đóng vai trò "người học việc" và nhận gia công giá rẻ đã biến đổi hoàn toàn vị thế trong nền kinh tế toàn cầu. Xin giới thiệu đến bạn đọc tuyến bài: Sự đảo chiều của 'Made in China'.
Bài 1: Muốn rời 'công xưởng' Trung Quốc, phương Tây nhận ra sự thật phũ phàng Bài 2: Bước chuyển công xưởng thế giới: Nhà máy Trung Quốc nắm quyền thiết kế sản phẩm Bài 3: Thoát mác bắt chước, kém chất lượng, thương hiệu Trung Quốc vươn ra toàn cầu
Năm 1979, Trung Quốc ban hành Luật Doanh nghiệp liên doanh vốn giữa Trung Quốc và nước ngoài với mục tiêu mở rộng hợp tác kinh tế và trao đổi công nghệ. Luật quy định công nghệ và thiết bị do phía nước ngoài góp vốn phải tiên tiến, phù hợp với nhu cầu nội địa.
Bối cảnh ấy phản ánh vị thế của Trung Quốc khi bắt đầu cải cách mở cửa: một quốc gia cần vốn, thiết bị và công nghệ bên ngoài để xây dựng năng lực sản xuất. Nguồn cung công nghệ chủ yếu đến từ các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi phía Trung Quốc đảm nhận ngày càng nhiều công đoạn chế tạo.
Theo Tổng cục Thống kê Trung Quốc (NBS), năm 1980 đại lục chỉ có 3 doanh nghiệp có vốn nước ngoài nhưng đến cuối năm 2017, số doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn có vốn đầu tư nước ngoài và từ Hong Kong, Macao, Đài Loan đạt khoảng 50.000, sử dụng 20,89 triệu lao động.
Nhóm này tạo ra 7.500 tỷ NDT giá trị giao hàng xuất khẩu, tương đương 60,8% tổng giá trị khu vực công nghiệp quy mô lớn. NBS đánh giá các doanh nghiệp ngoại không chỉ mang tới vốn mà còn đưa công nghệ tiên tiến, cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế và kinh nghiệm quản lý hiện đại vào Trung Quốc.
Trung Quốc là công xưởng sản xuất số 1 thế giới. Ảnh: tld-apparel
Từ lắp ráp đến chuỗi cung ứng
Sự phát triển của ngành máy tính xách tay (laptop) phản ánh rõ quá trình này.
Theo hãng nghiên cứu Market Intelligence & Consulting Institute (MIC), đầu thập niên 1990, laptop chủ yếu được sản xuất tại Đài Loan (Trung Quốc) và Nhật Bản. Khi Trung Quốc đại lục mở cửa, vùng châu thổ Châu Giang và Trường Giang phát triển thành các cụm sản xuất điện tử lớn. Những doanh nghiệp nội địa như Lenovo, Founder, Great Wall xuất hiện, trong khi các nhà sản xuất thiết kế theo đơn đặt hàng (ODM) của Đài Loan cũng mở cơ sở tại Thượng Hải, Côn Sơn, Trùng Khánh.
Từ năm 2000 đến 2010, Trung Quốc mở rộng từ lắp ráp sang sản xuất màn hình, bo mạch chủ, bàn phím, vỏ máy và pin. Các doanh nghiệp như Huaqin, Luxshare dần chuyển từ gia công theo thiết kế có sẵn (OEM) sang ODM.
Năm 2013, khi thị trường máy tính suy giảm, Intel triển khai chương trình China Technique Ecosystem (CTE) nhằm thúc đẩy hệ sinh thái thiết bị dùng chip x86 tại Trung Quốc. Intel cung cấp bộ xử lý, thiết kế tham chiếu, công cụ phát triển và lập quỹ đổi mới 200 triệu USD.
Năm 2014, tập đoàn Mỹ thành lập trung tâm đổi mới thiết bị thông minh tại Thâm Quyến và chi thêm 100 triệu USD cho hệ sinh thái này. Chương trình góp phần hình thành thế hệ ODM Trung Quốc có khả năng làm khuôn nhanh, thiết kế theo module và rút ngắn chu kỳ giao hàng.
Quá trình phát triển không đi theo bước nhảy vọt từ gia công lên công nghệ cao mà trải qua nhiều tầng: lắp ráp, linh kiện, OEM, ODM rồi đến sản xuất hàng không thương hiệu (white-label).
Rất khó tái hiện hệ sinh thái sản xuất của Trung Quốc. Ảnh: nextbigfuture
Sự tích lũy đó khiến chiến lược "China+1" gặp giới hạn. MIC ghi nhận hoạt động sản xuất laptop phục vụ thị trường Mỹ và châu Âu đang chuyển một phần sang các nước khác do sức ép thuế quan và địa chính trị. Tuy nhiên, "China+1" không đồng nghĩa với "China-free". Trung Quốc vẫn giữ hệ sinh thái gồm nhà máy, nhà cung cấp linh kiện và năng lực kỹ thuật tích lũy hơn hai thập niên.
Mặt khác, Trung Quốc là thị trường laptop lớn, chiếm khoảng 12-13% doanh số toàn cầu, so với Mỹ (27%) và châu Âu (23%). Do đó, các hãng máy tính phải vận hành đồng thời hai hệ thống: sản xuất ngoài Trung Quốc để phục vụ một số thị trường, song tiếp tục dựa vào chuỗi cung ứng và thị trường nội địa đại lục.
Một nhà máy mới có thể xây dựng ở quốc gia khác, nhưng việc tái thiết lập đầy đủ nhà cung cấp linh kiện, khuôn mẫu, kỹ sư, logistics và năng lực sản xuất hàng loạt như một cụm công nghiệp lâu năm là bài toán hoàn toàn khác.
Quy mô sản xuất dịch chuyển
Đến năm 2025, vị thế sản xuất của Trung Quốc đã thay đổi đáng kể. Số liệu NBS cho thấy giá trị gia tăng toàn ngành công nghiệp đạt 41.683 tỷ NDT, tăng 5,8%. Riêng ngành chế tạo tăng 6,4%; chế tạo thiết bị tăng 9,2%; chế tạo công nghệ cao tăng 9,4%. Sản xuất ô tô tăng 11,5%; máy móc, thiết bị điện tăng 9,2%; máy tính và thiết bị điện tử tăng 10,6%.
Năng lực sản xuất không còn dựa chủ yếu vào lợi thế nhân công giá rẻ. Năm 2025, Trung Quốc chi 3.926 tỷ NDT cho nghiên cứu và phát triển (R&D), tương đương 2,8% GDP, tăng 8,1% so với năm trước. Nhân sự R&D quy đổi toàn thời gian đạt 7,95 triệu người/năm, tăng từ mức 5,24 triệu năm 2020.
Từ nền kinh tế tìm cách đưa công nghệ nước ngoài vào nhà máy, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống sản xuất sở hữu đồng thời năng lực nghiên cứu, thiết kế, cung ứng linh kiện và sản xuất quy mô lớn.
Trong những ngành có chuỗi cung ứng phức tạp, bài toán của các doanh nghiệp toàn cầu hiện nay không phải là tìm một nhà máy thay thế Trung Quốc, mà là tìm cách tái tạo một hệ thống đã được tích lũy qua nhiều thập kỷ.
Đón đọc bài 2: Bước chuyển công xưởng thế giới: Nhà máy Trung Quốc nắm quyền thiết kế sản phẩm