![]() |
Ông Đặng Đức Mai, Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê Tài chính, Bộ Tài chính |
“NGN mang lại hiệu quả và thành công…”
ICTnews - Vào tháng 9/2007, Bộ Tài chính sẽ tổng kết, đánh giá kết quả dự án Hạ tầng truyền thông ngành tài chính.
Nhưng ngay ở thời điểm này, ông Đặng Đức Mai, Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê Tài chính, Bộ Tài chính đã khẳng định với Báo BĐVN rằng dự án rất hiệu quả và việc lựa chọn công nghệ mạng thế hệ mới là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào thành công đó, đồng thời tiết kiệm được một khoản ngân sách đầu tư không nhỏ…
Lãnh đạo ngành tài chính đặt mục tiêu: “Đến năm 2010 hoàn thành hệ thống thông tin quản lý tài chính tích hợp” (IFMIS). Đến nay, việc xây dựng hệ thống này diễn ra như thế nào, kết quả đạt được đến đâu, thưa ông?
Chúng tôi đang tập trung mọi nguồn lực để có thể hoàn thành mục tiêu này. IFMIS tích hợp các hệ thống quản lý tài chính nhằm trợ giúp Chính phủ trong việc lập kế hoạch và quản lý các nguồn lực tài chính quốc gia một cách hiệu quả hơn.
IFMIS gồm 9 hệ thống ứng dụng chính: Hệ thống quản lý thông tin Kho bạc và Ngân sách (TABMIS), Hệ thống quản lý Thuế, Hệ thống quản lý Hải quan, Hệ thống quản lý Nợ, Hệ thống quản lý Rủi ro, Hệ thống thống kê Tài chính Quốc gia, Hệ thống dự báo Kinh tế Quốc gia, Hệ thống hoạch định Ngân sách, Hệ thống lập kế hoạch Chi tiêu Trung hạn. Các hệ thống ứng dụng được xây dựng và phát triển theo mô hình tập trung, đảm bảo tuân theo các chuẩn về quy trình, ứng dụng, dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật chung trong toàn ngành.
Đến nay, các hệ thống thành phần của IFMIS đang được tập trung triển khai xây dựng. Điển hình là TABMIS, hệ thống cung cấp chức năng lõi về kho bạc và ngân sách tại cấp trung ương và địa phương, bao gồm tính năng đầy đủ cho phân bổ, cấp phát ngân sách, quản lý tài sản công, quản lý ngân quỹ, báo cáo tài chính và tài khóa... đang trong giai đoạn gấp rút hoàn thiện và sẽ đưa vào sử dụng trong năm 2009.
Có nhận định rằng, việc đầu tư cho ứng dụng CNTT của ngành tài chính là rất lớn so với các ngành khác, nhưng cũng mới ở mức độ ban đầu, đáp ứng yêu cầu tối thiểu của một hệ thống CNTT phục vụ tác nghiệp. Ông có bình luận gì?
Lãnh đạo ngành tài chính xác định cải cách công tác quản lý tài chính phải đi đôi với việc ứng dụng CNTT hiện đại hóa nghiệp vụ quản lý của ngành, chính vì vậy đầu tư đưa ứng dụng CNTT vào phục vụ tác nghiệp là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Việc đầu tư ứng dụng CNTT trong thời gian qua của ngành tài chính đã đạt được những kết quả nhất định. Hiện nay, trên 70% các lĩnh vực quản lý của ngành đã được ứng dụng CNTT và 100% các lĩnh vực đều sử dụng máy tính để hỗ trợ công việc. Tuy nhiên, việc đầu tư được nhận định là mới ở mức độ ban đầu vì nghiệp vụ ngành tài chính thay đổi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn cải cách hành chính hiện nay. Các hệ thống ứng dụng của ngành đang được nâng cấp và chuyển đổi theo hướng tích hợp các chức năng và xử lý tập trung. Xét trên từng lĩnh vực, mặc dù hầu hết đã có ứng dụng hỗ trợ, nhưng các ứng dụng hiện tại chỉ dừng ở mức hỗ trợ các tính toán, xử lý trực tiếp mà chưa áp dụng được cho công tác kiểm tra, đối chiếu, phân tích, thống kê. Xét trên khả năng đáp ứng của ứng dụng với quy trình hiện tại, trên một số lĩnh vực chính, hệ thống vẫn chưa cung cấp được các thông tin mang tính hỗ trợ ra quyết định cho lãnh đạo, các hệ thống vẫn mang tính độc lập trong từng hệ thống, mức độ liên kết chia sẻ, trao đổi dữ liệu chưa cao.
Nhận định trên cũng là cách chúng tôi đặt ra để đánh giá việc triển khai ứng dụng CNTT trong thời gian qua, xác định được những điểm yếu, điểm mạnh, rút ra bài học kinh nghiệm để từ đó đưa ra kế hoạch và lộ trình thực hiện đưa ứng dụng CNTT vào các nghiệp vụ tài chính một cách hiệu quả và khả thi nhất.
Để ứng dụng CNTT hiệu quả, một hạ tầng truyền thông hiện đại đóng một vai trò rất quan trọng. Quan điểm của ngành tài chính trong việc xây dựng hạ tầng truyền thông này?
Quan điểm cơ bản, xuyên suốt quá trình triển khai xây dựng hạ tầng truyền thông ngành Tài chính chính là tính hiệu quả, thể hiện ở các nội dung cụ thể sau:
Chia sẻ dùng chung hạ tầng. Phải có một môi trường truyền thông đủ mạnh đã trở thành một trong những điều kiện tiên quyết để hiện đại hóa ngành. Đây chính là lý do đầu tiên của việc hình thành dự án xây dựng cơ sở hạ tầng truyền thông thống nhất ngành Tài chính, dựa trên công nghệ mạng thế hệ mới (NGN).
Phát triển đồng bộ với ứng dụng, với nhu cầu của nghiệp vụ. Một yêu cầu đặt ra là hạ tầng truyền thông mở đến đâu thì sử dụng hết đến đó, băng thông mạng luôn chạy theo sau nhu cầu sử dụng chứ không có hiện tượng ngược lại là đường trống không có dữ liệu. Hạ tầng truyền thông mạnh lên cho phép áp dụng mô hình xử lý tập trung và vận hành hiệu quả. Số lượng đầu máy chủ sẽ giảm xuống, kéo theo việc giảm xuống rất nhiều chi phí.
Sử dụng các giải pháp hiệu quả, tiết kiệm chi phí. Ở thời kỳ đầu, xây dựng hệ thống hạ tầng truyền thông, số lượng các nhà cung cấp còn hạn chế, dịch vụ viễn thông đắt đỏ, định hướng về mạng dữ liệu của quốc gia lại chưa rõ ràng, dẫn đến Bộ Tài chính đã phải tự thiết lập một số các đường truyền kết nối trực tiếp các đơn vị và dịch vụ truyền dẫn trên đó, với chi phí thấp hơn so với đi thuê. Theo thời gian, thị trường dịch vụ viễn thông ngày càng nhộn nhịp cùng với sự ra đời của nhiều nhà cung cấp dịch vụ, có sự cạnh tranh mạnh mẽ về giá, loại hình dịch vụ và chất lượng dịch vụ, đã giúp tạo điều kiện để chúng tôi có lựa chọn tốt nhất cho hệ thống truyền thông của ngành – đó chính là công nghệ mới NGN.
Đầu năm nay, Bộ Tài chính đã chọn VNPT làm nhà cung cấp dịch vụ Dự án “Hạ tầng truyền thông ngành Tài chính”, trên nền công nghệ NGN. Ông có thể cho biết việc triển khai dự án này đang được tiến hành như thế nào?
Hệ thống mạng lõi (core) của Bộ Tài chính có hiệu năng mạnh mẽ như của một nhà cung cấp dịch vụ. Trên hệ thống mạng lõi sử dụng chủ yếu thiết bị của Juniper Networks, kết hợp thiết bị Cisco đã có từ trước, có thể khẳng định chúng tôi là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam triển khai công nghệ mạng MPLS VPN (MegaWAN), có thể cung cấp nhiều dịch vụ trên một hạ tầng duy nhất, điều khiển tập trung và có khả năng mở rộng cao theo nhu cầu, giúp cung cấp dịch vụ truyền thông cho toàn bộ các bộ phận của ngành tài chính (thuế, hải quan, kho bạc...).
VNPT là đối tác chính của Bộ Tài chính trong dự án này, cung cấp trên 95% số kênh truyền cho ngành (còn lại là của FPT Telecom và EVN Telecom) và có chính sách về giá rất tốt. Lợi điểm chính của VNPT là đã có sẵn mạng lưới hạ tầng và đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp trải rộng trên phạm vi cả nước, có nhiều loại hình dịch vụ cho phép khách hàng lựa chọn theo nhu cầu, đặc biệt là việc đi đầu triển khai, áp dụng các công nghệ mới như NGN, truyền dẫn vệ tinh IP, và cung cấp sớm các dịch vụ này tới khách hàng. Mặc dù dự án vẫn còn đang tiếp tục, nhưng với mức độ sử dụng và tốc độ tăng trưởng sử dụng đường truyền như hiện nay, cũng như cách thức triển khai dự án, có thể khẳng định dự án sẽ thành công, phục vụ tốt cho yêu cầu các ứng dụng nghiệp vụ của toàn ngành.
Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ giảm dần hình thức giấy tờ và thay thế bằng hình thức điện tử trong việc phổ biến thông tin từ cấp trung ương xuống địa phương, vừa nhanh chóng, kịp thời, vừa tiết kiệm chi phí. Bên cạnh dịch vụ truyền dữ liệu, các dịch vụ giá trị gia tăng khác như thoại, truyền hình hội nghị (video conference), đào tạo điện tử (e-learning)...cũng bắt đầu được đưa vào triển khai để khai thác thế mạnh của hạ tầng truyền thông này.
Được biết, với việc sử dụng công nghệ tiên tiến này, Bộ Tài chính đã tiết kiệm được một khoản ngân sách không hề nhỏ so với việc lựa chọn các công nghệ khác...
Đúng vậy. Nhưng việc tiếp cận công nghệ mạng thế hệ mới MPLS VPN thời gian đầu chúng tôi gặp nhiều khó khăn. Không ít ý kiến lo lắng, ngần ngại cho rằng nên chăng hãy tiếp tục sử dụng kênh thuê riêng (leased-line) và mạng IP thuần túy, bởi kênh thuê riêng có lợi điểm là chất lượng truyền dẫn rất đảm bảo, còn mạng IP thuần túy đơn giản hơn khi triển khai, kiến thức không đòi hỏi quá cao siêu. Tuy nhiên, với một hệ thống mạng với quy mô lớn như của ngành tài chính, cách tiếp cận này không hợp lý vì chi phí quá lớn nếu sử dụng kênh thuê riêng và việc quản lý sau này đặc biệt khi có các dịch vụ khác ngoài dữ liệu sẽ rất phức tạp nếu dùng IP thuần túy.
Bên cạnh yếu tố chi phí, sự cam kết chắc chắn của VNPT đối với việc cung cấp dịch vụ MPLS VPN (MegaWAN) cùng với triển vọng phát triển của dịch vụ này, sự vào cuộc kịp thời và tích cực của tập đoàn Juniper Networks với tư cách vừa là nhà cung cấp thiết bị vừa là nhà cung cấp giải pháp, cùng trình độ kiến thức cao và sự tự tin của đội ngũ kỹ thuật của Bộ Tài chính đã giúp lãnh đạo tin tưởng, quyết định lựa chọn giải pháp này. Đây là cũng là những yếu tố quan trọng tham gia vào sự thành công của dự án.
Còn về chuyện tiết kiệm, bên cạnh việc tiết kiệm trong mua sắm thiết bị, việc sử dụng công nghệ MPLS với số lượng kênh truyền không thay đổi nhưng băng thông tăng lên được gần gấp đôi đã giúp chúng tôi tiết kiệm được khoảng 60-70 tỷ đồng cước phí đường truyền trong dự án từ nay đến hết năm 2009.
Dữ liệu ngành tài chính có độ nhạy cảm rất cao, vì thế yêu cầu về bảo mật là rất lớn. Bộ Tài chính đã có những phương án lựa chọn các giải pháp, công nghệ bảo mật như thế nào?
Việc sử dụng công nghệ MPLS và các thiết bị mạng đã được nhúng tính năng bảo mật trong đó, đã giúp chúng tôi đảm bảo được khả năng bảo mật về đường truyền và thiết bị theo đúng yêu cầu mà chúng tôi đặt ra. Tuy nhiên, Bộ Tài chính vẫn có riêng một đề án bảo mật để tăng cường khả năng bảo mật cho hệ thống và các ứng dụng, như việc sử dụng hệ thống hạ tầng khóa công khai (PKI) hay hệ thống password dùng một lần (OTP).... Đề án này hiện chúng tôi đang trong quá trình xây dựng.
Xin cảm ơn ông!
Đặng Nguyễn
- Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số cuối tháng 8/2007
