Ông Nguyễn Đức Lãng (SN 1939, trú tại khu phố 9, phường Nam Đông Hà, Quảng Trị) là người trực tiếp may những lá cờ đỏ sao vàng treo trên cột cờ Hiền Lương trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Sinh ra tại Cam Lộ, mồ côi cha mẹ từ sớm, từ nhỏ ông Lãng sống với ông bà rồi chuyển về ở cùng gia đình cô ruột. Tại đây, ông bén duyên với nghề may và thành thạo từ khi mới 10 tuổi.

Sau Hiệp định Geneve năm 1954, sông Bến Hải trở thành giới tuyến tạm thời chia cắt hai miền Nam – Bắc. Cột cờ Hiền Lương khi ấy không chỉ là một công trình, mà còn là biểu tượng của niềm tin thống nhất.
Năm 17 tuổi, người thợ may trẻ ra huyện Vĩnh Linh (cũ) làm việc tại Hợp tác xã Nam Hồng. Đến năm 1959, khi vừa tròn đôi mươi, ông tham gia lực lượng công an vũ trang khu vực Vĩnh Linh và được giao một nhiệm vụ đặc biệt, tiếp nhận, may vá, đảm bảo lá cờ Tổ quốc luôn tung bay trên cột cờ phía bờ Bắc.
Giữa mưa bom bão đạn, những lá cờ thường xuyên bị rách, cháy xém. Người thợ may năm xưa tranh thủ từng phút bình yên hiếm hoi, may cờ ngay trong hầm trú ẩn để kịp thay thế.
Cờ Tổ quốc tung bay, cổ vũ đồng bào miền Nam chiến đấu
Không chỉ là nhiệm vụ, việc giữ cờ còn là một “cuộc chiến biểu tượng”. Mỗi lần lá cờ được kéo lên cao, người dân hai bờ lại xúc động.

Những lá cờ từ đó trở thành biểu tượng của niềm tự hào và khát vọng thống nhất non sông. Suốt nhiều năm, người bảo vệ lá cờ nơi giới tuyến đã miệt mài may vá, chuẩn bị sẵn cờ dự phòng để thay thế kịp thời, bảo đảm trên đỉnh cột cờ Hiền Lương không một ngày nào vắng bóng sắc cờ Tổ quốc.
Kích thước lá cờ cũng được điều chỉnh tăng dần cho tương xứng. Từ năm 1954, cờ có diện tích khoảng 24m²; đến năm 1957 tăng lên 32m² và năm 1958 đạt 38,6m². Cột cờ cũng được nâng cao tương ứng.
Ông Lãng cho biết, trung bình mỗi tháng thay một lá cờ mới, đồng thời tu sửa khoảng 12 lá cũ và luôn chuẩn bị sẵn 2 lá dự phòng. Với kích thước lớn, mỗi lá cờ mất 5–6 ngày để hoàn thiện; khi đã thuần thục, thời gian rút xuống còn khoảng 3 ngày. Tuy vậy, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, có khi phải mất đến 5 ngày mới xong.

Theo chia sẻ của người đàn ông 87 tuổi, một lá cờ diện tích 38,6m² cần tới 122m vải đỏ và 12m vải vàng, nặng hơn 15kg. Mỗi đường viền đều được may 4 lớp để chịu sức gió mạnh. Những lá cờ cũ không còn sử dụng tiếp tục được tận dụng làm màn hoặc may áo.
Có thời điểm, ông từng bức xúc vì là thanh niên nhưng không được trực tiếp ra chiến trường mà chỉ ở lại may cờ. Ông nhiều lần viết đơn xin ra trận. Tuy nhiên, sau khi được cấp trên phân tích, người lính ấy nhận ra ý nghĩa của nhiệm vụ mình đảm nhận.
“Bản thân tôi là người lính, dù ở vị trí nào thì nhiệm vụ ấy cũng cao cả. Tôi tự hào vì góp phần để lá cờ Tổ quốc luôn tung bay, cổ vũ đồng bào miền Nam chiến đấu”, ông chia sẻ.
Năm 1960, ông được cấp một chiếc xe đạp để thuận tiện đi lại. Mỗi năm, ông cùng đồng đội đạp xe ra Hà Nội 2 chuyến để đề đạt nhu cầu vải với các cơ quan hậu cần.

“Chúng tôi đạp xe liên tục 5–6 ngày ra Hà Nội xin vải, bất chấp hiểm nguy trên suốt chặng đường. Khi ấy, cái chết cận kề nhưng ai cũng coi là bình thường, chỉ mong lá cờ không bao giờ ngừng bay”, ông bồi hồi nhớ lại.
Chiếc xe đạp, kỷ vật gắn bó với những năm tháng gian khó sau này được ông hiến tặng cho Bảo tàng Quảng Trị như một cách lưu giữ ký ức lịch sử.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, cột cờ Hiền Lương đã trở thành di tích lịch sử đặc biệt, nhắc nhớ một thời đất nước chia cắt nhưng không bao giờ mất đi niềm tin đoàn tụ.
Với ông Nguyễn Đức Lãng, mỗi lá cờ không chỉ là sản phẩm của đôi tay, mà còn là một phần tuổi trẻ, là ký ức của những năm tháng cống hiến cho Tổ quốc.