“Bác sĩ ơi, nhà em lại đau như mấy lần trước rồi!”. Nghe tiếng gọi trong ca trực tại Bệnh viện Đa khoa Mường Lát (Thanh Hóa), BSCKI Nguyễn Tiến Trung, phụ trách Khoa Sản, nhận ra người chồng của thai phụ từng 4 lần mất con khi thai mới 26-28 tuần.
LỜI TÒA SOẠN:
Ở vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số, nơi điều kiện đi lại còn khó khăn và nguồn nhân lực y tế thiếu thốn, mỗi bước tiến của ngành y đều mang ý nghĩa thiết thực với cả thầy thuốc và người dân.
Từ đào tạo, hỗ trợ chuyên môn cho bác sĩ địa phương đến chuyển giao kỹ thuật, khám chữa bệnh từ xa và đưa dịch vụ y tế đến gần cộng đồng, nhiều giải pháp đang được triển khai nhằm thu hẹp khoảng cách chăm sóc sức khỏe giữa các vùng miền.
Tuyến bài “Đưa y tế chất lượng cao đến gần dân vùng khó” của VietNamNet ghi nhận những nỗ lực ấy, cùng các vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ để người dân vùng khó được chăm sóc sức khỏe tốt hơn.
Bệnh nhân là chị Sùng Thị Cở, sinh năm 1996, dân tộc Mông. Đây là lần mang thai thứ 6 của chị nhưng trước đó, vợ chồng chị mới chỉ có một người con. Bốn lần mang thai còn lại, chị đều đau đớn mất con khi thai kỳ mới ở tuần thứ 26-28 mà không hiểu vì sao.
Lần này, cơn đau lại xuất hiện giống những lần trước. Nhận định bệnh nhân dọa đẻ non, có tiền sử sảy thai liên tiếp, bác sĩ Nguyễn Tiến Trung chỉ định khâu vòng cổ tử cung khi chị ở tuần thai thứ 20.
“Bệnh nhân giữ thai được đến tuần thứ 38, hạ sinh thành công bé gái nặng 3kg”, bác sĩ Trung nhớ lại ca bệnh năm 2024, một năm sau khi anh trở về từ khóa đào tạo thuộc Dự án 585 của Bộ Y tế.
Đây là dự án thí điểm đưa bác sĩ trẻ tình nguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bác sĩ Trung là một trong những học viên đầu tiên của giai đoạn II, bắt đầu từ năm 2021.
Những kỹ thuật giữ người bệnh ở lại tuyến cơ sở
Vùng biên Mường Lát là nơi có 6 dân tộc cùng sinh sống, chiếm 90% dân số, chủ yếu là đồng bào Thái và Mông. Việc đi lại khó khăn khiến người dân gặp nhiều trở ngại khi cần chuyển đến các cơ sở y tế tuyến trên.
Theo bác sĩ Trung, trước đây, Bệnh viện Đa khoa Mường Lát gần như không có bác sĩ sản. Những trường hợp nặng như dọa đẻ non, bất thường sản khoa nghiêm trọng thường phải chuyển đến bệnh viện khu vực ở Ngọc Lặc, cách khoảng 100km đường núi, rồi tiếp tục chuyển lên bệnh viện tỉnh.
“Đồng bào dân tộc đi lại khó khăn. Nếu không được điều trị ngay gần nhà, họ có thể từ bỏ cơ hội chữa trị”, bác sĩ Trung chia sẻ.
BSCKI Nguyễn Tiến Trung thăm khám cho sản phụ và bé sơ sinh. Ảnh: BSCC
Sau khóa đào tạo 2 năm, nhận bằng BSCKI, bác sĩ Nguyễn Tiến Trung trở về Mường Lát, áp dụng những kiến thức và kỹ thuật được học vào thực tế khám, chữa bệnh. Ngoài khâu vòng cổ tử cung, anh còn thực hiện nhiều kỹ thuật sản khoa như theo dõi, quản lý tiền sản giật, tăng huyết áp; phẫu thuật chửa ngoài tử cung bằng nội soi; bóc nang buồng trứng bảo tồn; cắt tử cung toàn phần hoặc bán phần...
Những kỹ thuật này được anh triển khai sau khi đi học về, giúp nhiều trường hợp có thể điều trị tại địa phương, hạn chế phải chuyển tuyến.
Đào tạo đặc biệt, trở về phục vụ người dân
Khởi đầu từ năm 2013, Dự án 585 tuyển chọn bác sĩ theo nhu cầu nhân lực tại các cơ sở y tế thuộc 62 huyện nghèo, ưu tiên những chuyên ngành đang thiếu.
Ở giai đoạn I, các bác sĩ trẻ tốt nghiệp loại khá, giỏi, đang công tác tại bệnh viện tuyến trung ương và tình nguyện tham gia dự án được đưa về làm việc tại các bệnh viện vùng khó khăn. Thời gian công tác là 3 năm đối với bác sĩ nam và 2 năm đối với bác sĩ nữ.
TS Nguyễn Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và đào tạo (Bộ Y tế), Giám đốc Dự án 585, cho biết giai đoạn này, dự án bàn giao 354 bác sĩ chuyên khoa I cho 82 huyện khó khăn, biên giới thuộc 22 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên.
Từ giai đoạn II, bắt đầu năm 2021, mô hình tuyển chọn chuyển sang hướng gắn nhu cầu thực tế của địa phương với chuyên ngành đào tạo. Dự án trực tiếp khảo sát tại các huyện, đồng thời mở rộng đối tượng tham gia tới nhóm bác sĩ đào tạo liên thông. Số lượng học viên được đào tạo vì thế tăng cao hơn.
Trong khóa đào tạo của bác sĩ Trung, Thanh Hóa có 9 bác sĩ trẻ được lựa chọn, tập trung vào những chuyên ngành thiếu nhân lực như Sản, Ngoại, Nội, Nhi và Chẩn đoán hình ảnh.
Mỗi học viên được giảng viên hướng dẫn trực tiếp theo mô hình một thầy - một trò. Trong 24 tháng, các bác sĩ học lý thuyết, thực hành lâm sàng và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp với cường độ cao.
“Suốt 2 năm sáng chúng tôi học lý thuyết, chiều thực hành tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, tối lại theo các thầy đi trực ở viện. Chúng tôi 24/24 gắn với bệnh viện, không khác gì nội trú nhưng chương trình chỉ có 2 năm nên khối lượng kiến thức dồn nén, buộc phải căng mình ra học”, bác sĩ Trung nhớ lại.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, phụ trách Phòng Quản lý đào tạo sau đại học, Trường Đại học Y Hà Nội, cho biết điểm khác biệt của chương trình là tính thực tiễn và cường độ đào tạo cao. Mô hình “một thầy - một trò” giúp học viên trực tiếp thực hành, từng bước làm chủ các kỹ thuật lâm sàng chuyên sâu.
“Ngoài kỹ thuật y khoa, tôi còn học được cách quản lý bệnh nhân khoa học, hiện đại, đưa về áp dụng ngay tại địa phương mình”, bác sĩ Trung chia sẻ.
BSCKI Chang Go Xó là một trong 16 bác sĩ của Điện Biên tốt nghiệp Dự án 585 vào năm 2026. Ảnh: NTCC
BSCKI Chang Go Xó (Mường Nhé, Điện Biên), chuyên ngành Nhi khoa, tốt nghiệp năm 2026, cũng xúc động khi nhớ lại 24 tháng học tập tại Trường Đại học Y Hà Nội. Quá trình công tác ở vùng cao khiến vị bác sĩ là người dân tộc thiểu số này trăn trở trước tình trạng thiếu hụt kiến thức chuyên môn và trang thiết bị, trong khi cha mẹ bệnh nhi lo lắng giữa đêm rừng.
Sau thời gian đào tạo, các kỹ thuật cấp cứu nhi khoa như đặt nội khí quản, thở máy, cấp cứu trẻ nguy kịch đã được bác sĩ Chang Go Xó thực hiện thành thạo. Hành trình giành giật sự sống cho một em bé sinh non 29 tuần chỉ nặng 1,1kg khỏe mạnh trở về trong vòng tay mẹ là minh chứng cho sự trưởng thành về tay nghề, đồng thời là niềm hạnh phúc lớn lao của người thầy thuốc.
Giải bài toán nhân lực chất lượng cao cho vùng khó khăn
Trường Đại học Y Hà Nội là một trong 5 cơ sở đào tạo bác sĩ chuyên khoa I thuộc Dự án 585. GS.TS Nguyễn Hữu Tú, Hiệu trưởng nhà trường, khẳng định dự án không chỉ mang ý nghĩa đào tạo mà còn góp phần giải quyết bài toán nhân lực y tế tại những vùng khó khăn nhất của đất nước.
Một trong các bác sĩ tốt nghiệp Dự án 585, được bàn giao về công tác tại địa phương. Ảnh: NTCC
Tháng 4/2026, 74 bác sĩ trẻ, trong đó có 56 người dân tộc thiểu số, tốt nghiệp chuyên khoa I tại Trường Đại học Y Hà Nội và được bàn giao về công tác tại 32 cơ sở thuộc 12 tỉnh. Tại Trường Đại học Y - Dược Huế, tháng 7/2026, trường trao bằng cho 37 học viên thuộc 9 chuyên ngành. Đến nay, Dự án 585 đã bàn giao khoảng 670 bác sĩ cho các đơn vị y tế thuộc 26 tỉnh, thành ở nhiều vùng miền trên cả nước.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương nhìn nhận việc bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho y tế cơ sở tại các địa phương khó khăn sẽ giúp người dân tiếp cận dịch vụ kỹ thuật cao ngay gần nhà, giảm bớt gánh nặng chuyển tuyến không cần thiết, tránh lãng phí cho người dân, cộng đồng và xã hội.
Tại Mường Lát, câu chuyện của chị Sùng Thị Cở và con gái nặng 3kg là minh chứng cụ thể cho ý nghĩa ấy. Với người mẹ từng bốn lần mất con, việc giữ thai đến tuần thứ 38 và đón con chào đời là niềm hạnh phúc sau những lần đau đớn mất mát. Còn với bác sĩ Trung, đó là kết quả của hành trình học tập để trở về, mang những kỹ thuật đã được đào tạo phục vụ người dân nơi mình công tác.
(Còn tiếp)
Đào tạo một bác sĩ chuyên khoa mất tối thiểu 10 nămDự kiến, chương trình đào tạo sau đại học y khoa sẽ bỏ chuyên khoa 1 và 2 mà chuyển sang bác sĩ chuyên khoa, chuyên khoa sâu. Thời gian đào tạo tối thiểu một bác sĩ chuyên khoa là 10 năm, nếu học chuyên khoa sâu, thời gian sẽ dài hơn.