Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm tiếp cận thị trường thương mại toàn cầu và tạo tiền đề hội nhập và phát triển cho đất nước. Tuy nhiên, để đảm bảo các cam kết với WTO, Việt Nam phải rà soát và điều chỉnh lại các văn bản qui phạm pháp luật để phù hợp với các qui định của tổ chức này. Bài viết dưới đây (trích từ một nghiên cứu chính thức) tập trung phân tích về những vấn đề pháp lý mà Việt Nam cần chú ý và điều chỉnh trong lĩnh vực viễn thông.
Đối với điều khoản đối xử tối huệ quốc, cước viễn thông quốc tế dường như là lĩnh vực có thể được xác định là trái với nghĩa vụ không phân biệt đối xử giữa các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Cụ thể là trong Pháp lệnh Bưu chính viễn thông (BCVT), Điều 44 qui định “Giá cước dịch vụ viễn thông” có thể được điều chỉnh nhưng Nghị định 55/2001/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp và sử dụng Internet (dưới đây gọi tắt là Nghị định 55) lại không giải quyết một cách riêng biệt vấn đề cước viễn thông. Vì vậy, điều khoản về nghĩa vụ không phân biệt đối xử cần được bổ sung vào Pháp lệnh hoặc đưa vào Luật Viễn thông. Bên cạnh đó, cần điều chỉnh văn bản liên quan (Nghị định 55) cho phù hợp với nghĩa vụ không phân biệt đối xử này.
Minh bạch cũng là vấn đề cần thực hiện khi tham gia WTO. Như vậy, những văn bản pháp lý (như luật, qui định, hướng dẫn hành chính…) liên quan tới lĩnh vực viễn thông cần phải được thực hiện qua hình thức công bố công khai (trên Công báo hoặc một số phương tiện thông tin đại chúng).
Trong cam kết đa phương WTO, Việt Nam cam kết về minh bạch hóa chính sách. Theo đó, các văn bản chính sách của Việt Nam chỉ có hiệu lực khi đăng Công báo. Đồng thời, Chính phủ phải thành lập một website, tại đây sẽ công bố toàn bộ các chính sách về thương mại, sở hữu trí tuệ, đầu tư... Với các loại chính sách có tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì bản dự thảo phải được đăng công khai trên website này trước 60 ngày để lấy ý kiến đóng góp..
Vì đã cam kết minh bạch chính sách nên Việt Nam phải công bố các văn bản khi đang xây dựng để lấy ý kiến. Do vậy, khi xây dựng các luật hoặc các văn bản pháp luật qui phạm pháp luật, các cơ quan chức năng cần tiến hành công bố công khai để lấy ý kiến các bên cho phù hợp. Một số thuật ngữ pháp lý chung chung hoặc chưa rõ ràng cũng cần được chỉnh sửa đề phù hợp với qui định minh bạch của WTO. Thí dụ: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền” cần điều chỉnh lại cho rõ ràng là cơ quan nào…
Về vấn đề cấp phép, các điều khoản trong Pháp lệnh Viễn thông và Nghị định 55 liên quan tới việc cấp phép hiện chưa đủ rõ ràng để đáp ứng các yêu cầu của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS). Điều V:4 của GATS yêu cầu cấp phép phải: (a) dựa trên tiêu chí khách quan và minh bạch, như khả năng và năng lực cung cấp các dịch vụ; (b) không phiền hà hơn mức cần thiết để đảm bảo chất lượng dịch vụ; (c) không hạn chế về cung cấp một dịch vụ. Và điều V:3 yêu cầu: “cơ quan có thẩm quyền sẽ thông báo cho người nộp đơn về quyết định (cấp phép) của mình trong khoảng thời gian hợp lý”. Thực ra, quan trọng nhất trong các yêu cầu của GATS vẫn là phải “hợp lý, khách quan và bình đẳng” trong việc cấp phép đối với doanh nghiệp (cả trong và ngoài nước).
Về tiếp cận thị trường viễn thông, một số điều khoản trong WTO cho phép hạn chế số nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vì lý do quản lý tần số. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, Pháp lệnh BCVT của Việt Nam không có điều khoản nào có thể sử dụng để hạn chế việc tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, bất cứ hạn chế nào cũng phải được thực hiện phù hợp đối với điều VI (hợp lý, khách quan và bình đẳng) của GATS và các điều khoản liên quan…
Các hạn chế về đầu tư nước ngoài cũng được nhắc tới trong phần đối xử quốc gia trong đó Việt Nam đã cam kết tự do hoá từng bước những hạn chế của mình về đầu tư nước ngoài đối với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Tuy nhiên, một số thuật ngữ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam cần điều chỉnh cho nhất quán, phù hợp với các định nghĩa của GATS và không gây hiểu lầm cho các nước thành viên khác.
Về bảo vệ cạnh tranh, GATS và các tài liệu tham chiếu khác yêu cầu các biện pháp ngăn cản hành vi chống cạnh tranh trong đó có: trợ giá chéo, sử dụng thông tin lấy được từ đối thủ cạnh tranh và không tiết lộ thông tin về kỹ thuật cơ bản hay thông tin thương mại liên quan cho nhà cung cấp (để tránh cạnh tranh không lành mạnh)… Theo các yêu cầu nói trên thì rõ ràng giảm thiểu trợ giá chéo trong lĩnh vực viễn thông là việc làm cần được thực thi đầy đủ để phù hợp với qui định của WTO. Ngoài ra, Pháp lệnh BCVT và các luật pháp liên quan cũng cần bổ sung thêm những điều khoản cụ thể để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường viễn thông. Trong đó, cần có các qui định rõ ràng, cụ thể về vấn đề kết nối mạng, sử dụng thông tin sai mục đích, cung cấp thông tin kỹ thuật và thương mại… Đặc biệt, hiện Việt Nam chưa có qui định cụ thể về “Bản chào kết nối mẫu” và chưa có thủ tục tố tụng cụ thể khi tranh chấp kết nối xẩy ra.
Về giá cước, điều khoản của GATS và các tài liệu tham chiếu qui định việc định giá cước phải được “dựa trên chi phí”. Tuy nhiên, hiện nay khung giá cước dịch vụ của doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế chịu sự quản lý của nhà nước, còn các công ty viễn thông được tự do định giá của mình đối với các dịch vụ khác. Điều quan trọng là cần phải tính toán tách biệt chi phí dịch vụ (thí dụ: kết nối) và các chi phí liên quan đến dịch vụ phổ cập để đảm bảo chống lại các hành vi bán đắt hoặc bán rẻ, làm méo mó thị trường hoặc làm suy yếu khả năng đầu tư vào các dịch vụ mới và hạ tầng.
Một yêu cầu quan trọng khác của WTO là vấn đề quản lý điều tiết độc lập trong đó yêu cầu “Cơ quan quản lý điều tiết phải tách khỏi, và không chịu trách nhiệm về bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản nào. Các qui định và thủ tục mà cơ quan này sử dụng phải công bằng với tất cả các thành viên tham gia thị trường”. Việc tách cơ quan quản lý viễn thông ra khỏi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã được thực hiện thông qua việc Bộ BCVT được thành lập thay thế cho Tổng cục Bưu điện. Tuy nhiên, căn cứ vào quyền sở hữu nhà nước đối với các công ty có vốn nhà nước, rõ ràng sẽ có sự xung đột giữa quyền lợi của nhà nước trong việc tối đa hoá doanh thu và giá trị tài sản các công ty này với việc công bố các chính sách hỗ trợ tự do hoá và cạnh tranh. Việc thành lập một cơ quan quản lý điều tiết không trực thuộc Chính phủ và độc lập với Bộ BCVT để quản lý và bảo vệ quyền lợi nhà nước trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước sẽ giúp Chính phủ tập trung vào việc xây dựng khung chính sách và định hướng chính sách…
Nói tóm lại, cơ cấu quản lý trong lĩnh vực viễn thông của Việt Nam hiện đã phù hợp với nhiều cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, đặc biệt là cam kết gia nhập WTO. Tuy nhiên, vẫn còn có một số khoảng cách cần được xoá bỏ bằng những điều chỉnh cần thiết đối với các qui định hiện hành hoặc bổ sung những qui định pháp lý mới. Việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực viễn thông chắc chắn sẽ tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh trong lĩnh vực này, tạo sự bình đẳng trong việc tham gia thị trường và cách thức nội luật hoá các cam kết và nghĩa vụ pháp lý quốc tế của Việt Nam.
Thanh Hà
tổng hợp