
Ngày mới ở Liên Xô về, thầy cô được cấp trên phân phối cho ở một phần trong căn biệt thự khá đẹp trên một phố trung tâm Hà Nội.
Rồi trong Trường ĐH Tổng hợp hồi ấy bỗng xảy ra một cuộc gần như “cách mạng văn hoá” ở nước người.
Tầm cỡ “la bô” thôi, nhưng cũng đã đủ tác hại. Một số nhà khoa học bên khối khoa học tự nhiên, rồi khối Ngữ văn lọt vào tầm ngắm trước.
Thầy Nguyễn Tài Cẩn trong số đó. Phần biệt thự ấy cũng thôi, không ở nữa. Thầy cô xoay trở mua được một căn nhà gần chợ trời.
Phía đối diện xế bên kia đường là một trại tạm giam, tạm giữ của công an. Hồi ấy, từ trung tâm thành phố đến chợ trời vẫn còn được coi là xa vắng. Ấy là chuyện ngày trước, tôi được nghe các bậc trưởng thượng kể lại, chứ khi chúng tôi quen biết thầy cô thì quang cảnh đã đổi khác hết rồi, trại ấy không còn nữa.
![]() |
| GS. Nguyễn Tài Cẩn và GS. Nonna Stankevich tại ĐH Cornell (Hoa Kì), tháng 11/1993. |
Sau hai cánh cổng sắt tầm ngang người đứng, hơi xập xệ, là lối ngõ vào nhà
thầy Cẩn và cô Nonna, cũng đồng thời là cái sân nhỏ, hẹp, bám theo chiều dài tường nhà, phía trong
có cây ngọc lan khá lớn đứng cạnh khóm tre nhỏ trồng làm cảnh nhưng xùm xoè, ít
cắt tỉa. Quà của cô cho nhiều bạn
bè, đồng nghiệp, học trò, là những bông ngọc lan
cô thu hái, đặt trong cái phong
bì nho nhỏ do cô tự cắt dán lấy bằng giấy báo. Thanh cảnh và thơm thảo…
Thời bao cấp. Rồi chiến tranh phá hoại của không quân Mĩ. Bom đạn. Sơ tán. Gian
khổ, chật vật, thiếu thốn đủ đường. Cấp trên lo cho
cô, khuyên cô tạm tản cư về
Liên Xô. Cô cảm ơn, rồi cả nhà cùng sơ tán với trường lên Đại Từ – Thái Nguyên.
Đến khi phải sơ tán lần thứ hai tránh bom giặc cũng vậy, lại về với nông thôn,
chả ngại ngần gì.
Cứ nghĩ: giả sử (chỉ giả sử thôi), ngày ấy, cô tản cư về quê để tránh bom, giữa
lúc thầy Cẩn đang gặp khó khăn về hậu cảnh và không khí làm việc, thì thế nào
nhỉ?… Ngày thầy được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học, được phong tặng
danh hiệu cao quý Nhà giáo Nhân dân… mọi người quen biết, thân thiết đều vui và
mừng Thầy. Nhưng mà hình như vẫn nghe vẳng qua đâu đó… “xưa nay chỉ thấy người
nay cười”…
Có lần, cô lại
bày cho cả cách nấu ăn, chăm nuôi trẻ nhỏ (con trai đầu lòng của tôi lúc ấy mới
ba tuổi).
Cô kể: “Anh biết không, hồi sơ tán, Việt và Nam [hai con trai cô] còn nhỏ. Đêm, tất nhiên, chỉ có đèn dầu thôi. cô ngồi làm việc, đặt ngủ ở bên cạnh. Khi trẻ con khóc, đầu tiên là anh phải kiểm tra xem có thể bị kiến hay côn trùng gì đốt không, nếu không thì có thể đái dầm không, nếu không nữa thì có thể là đói, hoặc mùa đông là rét”…
Nói theo cách bây giờ, thế là cô đã hoà nhập với chúng ta. Về Việt Nam - một đất nước xa lạ vào lúc còn đang rất nghèo khó, vất vả, vì mới ra khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân chưa được bao lâu, cô đã nhanh chóng vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu và bình thản, tự tin nhập cuộc.
Đến đận không quân Mĩ bắn phá, cũng sơ
tán lên rừng tránh bom tránh đạn, vừa công việc vừa nuôi con nhỏ, khi về Hà Nội
cũng vẫn tem phiếu mọi thứ, tiêu chuẩn mỗi tháng được mua 13 cân lương thực độn
mì độn ngô… mà vẫn chuyên tâm nghiên cứu, giảng dạy… Tôi không thể biết
cô và
thầy có “bần” và “an bần” không, nhưng “lạc đạo” thì rõ. Không “lạc đạo” thì
trong hoàn cảnh ấy, đào đâu ra những kết quả nghiên cứu như thế.
Cuộc sống thiếu thốn là vậy, nhưng trong giảng dạy, nghiên cứu, bao giờ cô cũng
đặt ra yêu cầu cao nhất trong điều kiện có thể. Ngày tôi mới ở lại trường, chính
cô và thầy Cẩn trong một lần ngồi nói chuyện đã khai tâm cho tôi thế nào là một
bài nghiên cứu, tiêu chí đánh giá một bài nghiên cứu là ở đâu, tiêu chuẩn cần có
của bài nghiên cứu là những gì, nó phân biệt với một bài báo là ở chỗ nào… một
sinh viên chuyên ngành đào tạo ra thì phải đạt yêu cầu gì, biết làm gì…
Về quê hương để nghỉ hưu, cô cũng như các thầy, các cô khác, để lại cho Trường
cho Khoa toàn bộ thành quả nghiên cứu, giảng dạy của mình. Về nghỉ hưu, trong
mấy thứ “đồ gia bảo” mà cô mang theo, có chiếc mũ sắt được cấp hồi chiến tranh
phá hoại bằng không quân của Mĩ, có tấm Huân chương kháng chiến chống Mĩ cứu
nước.
Lại cứ lẩn thẩn nghĩ: Hoá ra toàn bộ quãng thời gian, tâm sức làm khoa học và
giảng dạy, đào tạo sung sức nhất của cô, cho tận đến lúc được nghỉ hưu, luôn
trong trạng thái “ở đây thì nhớ đằng kia, ở đằng kia lại nhớ về nơi đây”. Mà lẽ
thường, “… ở hai đầu nỗi nhớ, nghĩa tình đằm thắm hơn…” như lời một ca khúc, gần
đây vẫn thấy người ta hát.
Chả thế mà những lần thầy Cẩn về Hà Nội đều mang máy ảnh chụp hàng loạt: lối
ngõ vào nhà thầy cô trước đây, cái quán nước nhỏ bên đường gần nhà, cái cầu
thang trong nhà tập thể, cái cột điện đầu lối rẽ vào ngõ, cửa sổ nhà ai xa xa,
những đường dây điện nhằng nhịt trên trời… Để giải toả cho cái nhìn chắc là đầy
vẻ thắc mắc của tôi về việc chụp ảnh như thế, thầy giải thích: “Cô bảo chụp mang
sang cho cô đỡ nhớ”.
Tháng 8/2010, nhân có dịp đến thăm thầy cô ở Moskva, tôi hỏi han thầy cô
nhiều chuyện, rồi nói: “cô với thầy gắng giữ gìn sức khoẻ rồi khi nào có điều
kiện thì cô lại sang Hà Nội cô ạ. Hà Nội bây giờ đổi khác nhiều”… Cô nhìn ra
ngoài trời qua khung cửa sổ trong giây lát, ánh mắt chừng như xa xăm, rồi quay
lại, bảo: “Cô cũng muốn lắm, nhưng bác sĩ không cho”. Cô có vấn đề về sức khoẻ
khi đi máy bay.
Đời sống Việt, tâm hồn Việt đã rất sâu sắc và hình như đã hoà vào tâm hồn Nga
trong cô. Thế cho nên tôi mới kể thêm được một chuyện nhỏ nữa dưới đây.
Tháng 2/ 2011, thầy Nguyễn Tài Cẩn đường trần rẽ lối, quy tiên. Di cốt của
thầy được đưa về quê. Trước khi về Nghệ An,
thầy dừng nghỉ ở Hà Nội. Đón được
thầy từ sân bay về đến nhà, gia đình và người thân, học trò của
thầy, thiết linh
sàng kính viếng.
Giữa lúc mọi người bắt đầu thắp hương, chuẩn bị cắm vào bát hương, tôi bỗng thấy anh Nguyễn Tài Việt, trưởng nam của thầy cô, đi vội từ ngoài vào phòng, vừa đi vừa giở nhanh một cuộn giấy báo nhỏ, quấn kĩ, lấy ra ba cái chân hương đem từ bên Nga về, cắm vào bát hương trước, rồi việc thắp hương mới tiếp tục.
Một cảm giác thật lạ thoắt lướt qua trong đầu tôi, không xác định được là gì, không biết diễn tả thế nào… Có câu “phúc đức tại mẫu”. Tôi như mơ hồ thoáng thấy đằng sau anh, sau việc làm ấy của anh là cái bóng của mẫu thân anh – Giáo sư Nonna Vladimirovna Stankevich.
- Vũ Đức Nghiệu (PGS. TS, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội)
