![]() |
| Chị Nguyễn Tùng Giang - Trưởng phòng Dịch vụ và Giải pháp CNTT IBM Việt Nam |
Đối diện với người phụ nữ nhỏ nhẹ, trẻ trung, xinh xắn này, ít ai nghĩ chị đã gắn bó với IBM Việt
Tại Việt
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, IBM tin rằng đó là cơ hội cho SO bởi ngày càng có nhiều doanh nghiệp tìm đến outsourcing không chỉ để quản lý mà còn tối ưu hóa hạ tầng CNTT nhằm đạt các mục tiêu kinh doanh. Việt Nam, với lợi thế có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, được đào tạo và chi phí thấp, được xem là một điểm đến của SO trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Outsourcing không phải là làm thuê
Khi nói đến outsourcing, người ta thường nghĩ đến việc một công ty hay nhà máy đồng ý nhận linh kiện, phụ tùng do nhà cung cấp hoặc nhà sản xuất khác cung ứng để đỡ tốn kém hơn là mình tự làm lấy và việc tận dụng chi phí nhân công rẻ, tiết kiệm tiền bạc.
Theo giải thích của chị Giang thì SO có hàm ý rất rộng. Chẳng hạn, làm thế nào một công ty đáp ứng được các nhu cầu kinh doanh gia tăng với số lượng nhân viên và ngân sách hạn chế? Với các giải pháp SO dành cho ngành dược phẩm, một công ty dược có thể ủy thác việc quản lý hạ tầng CNTT cho một công ty công nghệ để dành nhiều thời gian và nguồn lực hơn cho các hoạt động kinh doanh chính như nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới.
Với một ngân hàng, hợp đồng outsource các dịch vụ bao gồm nâng cấp năng lực hệ thống CNTT và gia tăng sự hài lòng của khách hàng, tăng trưởng cùng với đạt các tiêu chuẩn thế giới.
Một công ty công nghệ có thể cùng tham gia với một công ty bảo hiểm để thiết kế, quản lý một dịch vụ bảo hiểm mới, có nghĩa là cùng chịu rủi ro. Sản phẩm bảo hiểm có lãi, công ty công nghệ được hưởng lợi và ngược lại, phải chia sẻ thất bại nếu làm ăn thua lỗ.
“Trong những SO, quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp giải pháp công nghệ là chia sẻ rủi ro, gắn chặt với cam kết cấp độ dịch vụ đem lại giá trị thực chứ không chỉ tiềm năng. Thông thường một hợp đồng SO là từ 5-10 năm vì nó đòi hỏi đầu tư lớn. Một, hai năm đầu công ty công nghệ lỗ là bình thường”, chị Giang cho biết. Mối liên kết giữa phí dịch vụ outsourcing và kết quả kinh doanh, theo IBM, là tài sản của một doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa các đối tác outsourcing đôi lúc có thể trở thành các tài sản làm gia tăng giá trị của cổ đông trong doanh nghiệp.

Một trong những đặc điểm đáng chú ý của SO là khi hợp đồng được ký kết, bộ phận CNTT của doanh nghiệp sẽ được chuyển giao cho nhà cung cấp dịch vụ giải pháp. Chẳng hạn, các nhân viên CNTT của hãng hàng không Singapore Airlines trở thành nhân viên của IBM khi IBM nhận quản lý hệ thống CNTT cho Singapore Airlines.
Hiện nhiều công ty có phạm vi hoạt động toàn cầu, việc duy trì mỗi chi nhánh một bộ phận CNTT khá cồng kềnh và tốn kém. Vì vậy, xu hướng chuyển giao việc quản lý hạ tầng CNTT cho một công ty công nghệ toàn cầu đang trở nên rõ rệt.
Tất nhiên, để đảm đương được những hợp đồng outsource như vậy, công ty công nghệ không những cần bán được sản phẩm, giải pháp, chăm sóc khách hàng mà còn phải đi trước đối tác một bước, khảo sát, xây dựng chiến lược kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng hệ thống IT.
“Chúng tôi phải có những chuyên gia am hiểu về các lĩnh vực khác ngoài công nghệ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông... Có như vậy chúng tôi mới có thể tư vấn, xây dựng kế hoạch, chiến lược cho khách hàng trong các lĩnh vực đó. Đây cũng là một lý do vì sao gọi là SO”, chị Giang giải thích.
Việt
IBM chưa đặt ra vấn đề xem Việt
Thực tế, ít nhất đã có một công ty Việt
Tuy nhiên theo chị Giang, thị trường Việt
Hiện 3 Trung tâm dịch vụ toàn cầu của IBM ở Việt Nam đang làm các công việc như phát triển phần mềm cho khách hàng của IBM tại nước ngoài; sử dụng đối tác của IBM là các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam để phát triển dự án phần mềm cho các công ty IBM tại các nước; tìm kiếm và chọn lọc các nhà cung cấp thiết bị và dịch vụ tốt nhất đồng thời tiến hành mua sắm các thiết bị, dịch vụ này cho các công ty của IBM tại các nước.
IBM đã tính toán mở rộng hoạt động tại Việt
