Viện trưởng Viện NISCI Hoàng Lê Minh:

Việt Nam chỉ cần thu hút được 2000 chuyên gia người Việt ở nước ngoài (NVONN) trong lĩnh vực CNTT là đã tạo được nguồn lực rất lớn để thúc đẩy ngành CNTT phát triển. Nhưng làm thế nào để thu hút họ?... Báo BĐVN đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Hoàng Lê Minh, Viện trưởng Viện Công nghiệp Phần mềm và Nội dung số Việt Nam (NISCI) về vấn đề này.

“Chúng ta chưa có thị trường để tập hợp họ”

Ông nghĩ sao về bài toán thu hút sự đóng góp của kiều bào để phát triển ngành CNTT?

Bài toán thu hút người giỏi từ nước ngoài về tham gia phát triển thị trường trong nước là bài toán khó nhưng cần phải giải. Còn chờ đến khi họ tự động quay trở về thì cũng có thể có nhưng còn rất lâu mà cơ hội có thể lỡ mất. Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước như Đài Loan, Trung Quốc, họ thừa nhận rằng họ phát triển được rất nhanh, chỉ trong mấy chục năm, là nhờ Hoa kiều.

Nhìn lại, VN có 2 triệu NVONN, trong đó có 200 ngàn người làm về CNTT. Tôi nghĩ chúng ta chỉ cần thu hút được 2 ngàn người là đã tạo ra được nguồn lực rất lớn để phát triển ngành CNTT vì họ là những người dày dạn về kinh nghiệm và có quan hệ sâu rộng. Chính họ sẽ là người gắn bó với thị trường và có khả năng hoạch định sự phát triển của ngành. Vì vậy, họ có khả năng tác động rất lớn.

Tuy nhiên, bức tranh của ngành CNTT của VN còn rất nhiều màu xám.

Vậy đâu là nguyên nhân chính dẫn đến chúng ta chưa có “lực hút” đối với họ?

Chúng ta chưa có thị trường để tập hợp họ. Họ về thấy điều kiện sinh hoạt tại Việt Nam khác xa với điều kiện sống của họ ở nước ngoài. Và đặc biệt ở đây, họ không có mối quan hệ trong công việc và trong đời sống. Có khi họ về chỉ vì lời mời của một cá nhân. Vì không có môi trường để khởi đầu, nên họ gặp phải nhiều khó khăn để phát triển. Nhiều người cho rằng chúng ta cứ mang đãi ngộ về thu nhập là có thể lôi kéo được họ. Nhưng điều này hoàn toàn sai lầm. Mức lương của chúng ta không thể sánh được với nước ngoài, thu nhập của các chuyên gia cao cấp ở Mỹ vào khoảng 150 – 200 ngàn USD/năm. Nếu lấy đãi ngộ về thu nhập thì không thể giải quyết được cơ bản nhu cầu của họ.

Những NVONN thực sự muốn kinh doanh, họ rất cần điều kiện để nghiên cứu phát triển sản phẩm, mở rộng được thị trường đầu tư... Đó mới là cái quan trọng.

“Nếu không nắm bắt ngay, cơ hội sẽ vuột mất!”

Về chính sách, hiện nay còn vướng mắc gì không, thưa ông?

Chính sách tuy đã rất đầy đủ nhưng vẫn chưa thực thi. Như chính sách mua nhà ở dành cho NVONN, dù đã được thông qua nhưng vẫn còn rất khó khăn cho những người nước ngoài nếu muốn mua theo giá gốc, họ không thể cạnh tranh để mua nhà theo giá đầu cơ được!

Hay hiện đã có chính sách cho nhập ô tô miễn thuế dành cho NVONN cư trú dài hạn ở VN từ 6 tháng trở lên, nhưng rất ít người được hưởng chính sách này dù nhu cầu rất lớn. Họ cần phải chờ các cơ quan quản lí xét và ra quyết định cho họ được mua ô tô miễn thuế.

Vấn đề nữa là về thuế thu nhập cá nhân. Thực tế, nếu DN thuê 1 NVONN về làm việc thì mức lương trung bình sẽ là khoảng 100 ngàn USD/năm. Và nếu chấp nhận, họ phải nộp 47 ngàn USD cho thuế thu nhập cá nhân theo cách tính thuế lũy tiến. Như vậy, chúng ta đã tốn nguồn tài chính khá lớn để trả thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia. Đó mới chỉ là 3 vấn đề nổi cộm.

Để giải quyết các vấn đề này, chúng ta phải đi theo hướng nào, thưa ông?

Theo tôi, về vấn đề thuế thu nhập, nhà nước có thể hoàn thuế lại cho các DN để họ tái đầu tư, hoặc trang trải cho những chi phí khác. Chúng ta ban hành chính sách chung nhưng cũng nên xem xét DN nào thực sự có chuyên gia giỏi, có khả năng tác động đến ngành, để có chế độ ưu đãi đặc biệt.

Hiện nay, chưa có ai đứng ra nhận làm việc này. Thực tế đã có nhiều DN đã lách luật. Các DN đã để phần lớn thu nhập của NVONN ở nước ngoài, thu nhập công khai của họ trong nước rất thấp. Vì vậy, có đánh thuế thu nhập thì cũng chẳng đáng là bao. Nhưng khi đó, NVONN không thể thực sự gắn bó, không thể thực sự sống chết với thị trường trong nước. Tôi đề xuất một cách làm khác, Viện sẽ đứng ra bảo lãnh, làm đầu mối để mời họ về làm việc. Chúng tôi sẽ đề nghị nhà nước áp dụng các chính sách ưu đãi về nhà ở, thuế,… để họ có điều kiện tốt nhất, an tâm đóng góp cho sự phát triển của ngành. Bên cạnh đó, về nhà ở, chúng tôi muốn đàm phán với các nhà đầu tư, đề nghị xây những căn hộ theo mô hình nhà Olimpic, với sự đảm bảo của nhà nước. Tôi nghĩ, việc này không khó nhưng cần một cơ chế cởi mở và sự ủng hộ của Nhà nước. NVONN có thể thuê để ở 1, 2 năm hoặc mua hẳn theo chi phí thực tế thực tế xây dựng.

Nếu làm được như vậy, họ có thể triển khai công việc ngay khi về VN. Đây là dự định mà tôi đã nung nấu từ lâu.

Ông dự định khi nào bắt tay vào thực hiện đề án này?

Vấn đề này đã nằm trong kế hoạch của Viện. Viện sẽ xây dựng 1 loạt đề án về xây dựng thương hiệu cho ngành, tham mưu cho Bộ, tôi đã đưa vào đề án để thu hút người nước ngoài về làm việc trong ngành CNTT. Thời gian để các cơ quan chức năng xem xét và phê duyệt nhanh nhất cũng mất 6 tháng. Nhưng cần có cơ chế cởi mở để đây thực sự là giải pháp đột phá.

Hiện nay, VN đang được coi là điểm sáng của đầu tư nên NVONN rất thích tham gia vào thị trường trong nước. Nhưng 2 năm nữa, liệu những điều kiện tốt như vậy có còn giữ được nữa không? Nếu không nắm bắt ngay, cơ hội sẽ vuột mất !

“Người Việt Nam làm CNTT rất phù hợp”

Tốt nghiệp lớp năng khiếu toán của trường Trương Vương A, rồi vào khối chuyên Toán, ĐH Tổng hợp (nay là ĐH Quốc gia Hà Nội), 17 tuổi ông đã dự thi Olympic toán Quốc tế và trở thành người Việt Nam đầu tiên đạt giải nhất toán quốc tế. Vậy theo ông giữa Toán học và CNTT có liên quan đến nhau? 

Toán là một ngành khoa học chính xác, tư duy. Nhờ có tư duy mà nó có thể nhận biết được sự thay đổi của xu hướng phát triển và tư duy được áp dụng cho ngành CNTT rất phù hợp. Hai ngành này rất là khoa học, nhưng nói tới thời điểm bây giờ phải nhìn nhận CNTT là một lĩnh vực mang tính chất rất rộng và là công cụ để phát triển các ngành kinh tế xã hội khác. Mọi người không thể giữ mãi quan điểm CNTT như một ngành khoa học được, CNTT là một ngành phục vụ cho các ngành kinh tế xã hội phát triển. Cũng như Toán bản thân nó là một ngành khoa học nhưng nó là cơ sở cho các ngành khoa học chính xác khác.

Với trí tuệ của con người Việt Nam liệu có phù hợp với ngành CNTT?

Theo tôi ở một góc độ nào đó, người Việt Nam làm CNTT rất giỏi, rất phù hợp. Điều đó đã được chứng minh không phải chỉ có ở một, hai thế hệ mà là cả một chuỗi rất dài từ những thế hệ trước cho đến gần đây. Nhưng điều này không có nghĩa toàn bộ người Việt mình chỉ nên làm CNTT.

Xin cảm ơn ông!

thực hiện

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 58 ra ngày 14/7/2008