Bà Nguyễn Thị Bích Nga và nhiều đồng đội đã không thực hiện được lời hẹn gặp lại nhau giữa thành phố năm xưa. Và bây giờ, bà cần mẫn lần theo từng địa chỉ, tấm ảnh cũ, mong tìm đưa những đồng đội đã nằm xuống gần 60 năm trước trở về với gia đình.
Hơn hai tháng vừa qua, công viên Lê Thị Riêng (phường Hòa Hưng, TPHCM) trở thành một trong những điểm đặc biệt của Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Lực lượng chức năng tại đây đã cất bốc được hàng trăm hài cốt liệt sĩ cùng nhiều di vật liên quan. Bước đầu xác định đây có thể là hài cốt của các chiến sĩ biệt động Sài Gòn và Tiểu đoàn 1 Long An đã hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Giữa dòng chảy đó, PV VietNamNet có dịp nghe nữ biệt động Nguyễn Thị Bích Nga (75 tuổi) trải lòng. Bà hiện là Chủ nhiệm CLB Truyền thống kháng chiến khối Vũ trang - Biệt động Sài Gòn.
Nữ biệt động Sài Gòn Nguyễn Thị Bích Nga. Ảnh: Nguyễn Huế
Bà Nga nói rằng dù hòa bình đã lập lại từ lâu nhưng sâu thẳm trong bà, cuộc chiến chưa thực sự kết thúc. Điều khiến bà luôn day dứt là việc những đồng đội ngã xuống mà không để lại tên thật, quê quán, gia đình - bởi nguyên tắc sống còn của chiến sĩ biệt động là tuyệt đối giữ bí mật, không mang giấy tờ khi làm nhiệm vụ.
Món nợ với 61 người không trở về
Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, bà bắt đầu bằng việc trở lại với những ngày trước Tết Mậu Thân 1968.
"Chúng tôi phải cải trang thành người dân để ém quân trong nội đô và qua mắt các trạm gác" - bà nhớ lại.
Trong đợt 1 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đơn vị bà có 88 người thì 61 người đã hy sinh, phần lớn vẫn "vô danh" suốt hơn nửa thế kỷ qua. Ngày 30/1 năm nay, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận 49 người trong số đó là liệt sĩ.
Trong danh sách cấp bằng Tổ quốc ghi công cho 49 liệt sĩ biệt động hy sinh năm 1968 của đơn vị, đáng chú ý, tập hồ sơ ghi những cái tên, những bí danh ngắn gọn: Cường, Ngọ, Châu, Phước, Thanh, Tươi... Riêng chiến sĩ có bí danh Út Nhỏ là trường hợp hiếm hoi đã xác minh được đầy đủ danh tính là liệt sĩ Bùi Văn Ráng, song hài cốt vẫn chưa được tìm thấy.
"Người còn sống chỉ nhớ bí danh của nhau, không biết quê quán. Thân nhân thì bặt tin từ ngày người thân ra đi" - bà Nga trăn trở.
Trong ảnh là danh sách cấp bằng Tổ quốc ghi công cho 49 liệt sĩ biệt động hy sinh năm 1968. Đáng chú ý, tập hồ sơ ghi những cái tên, những bí danh ngắn gọn: Cường, Ngọ, Châu, Phước, Thanh, Tươi...
Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh TPHCM, CLB Truyền thống kháng chiến khối Vũ trang - Biệt động Sài Gòn rà soát hồ sơ cũ, đối chiếu các phát hiện mới tại công viên Lê Thị Riêng. Hài cốt, di vật chỉ là manh mối. Việc xác định danh tính còn cần hồ sơ, nhân chứng và ADN.
Nói về quy trình xác minh, bà Nga cho biết công tác này đòi hỏi sự đối chiếu hết sức tỉ mỉ, chặt chẽ.
Câu lạc bộ sẽ tiếp nhận thông tin về mục tiêu chiến đấu, bí danh lịch sử do gia đình cung cấp, sau đó đối chiếu với các hồ sơ lưu trữ.
Nếu có sự trùng khớp, gia đình sẽ khai báo tại địa phương hoặc liên hệ Ban Chỉ đạo 515 TPHCM để được hướng dẫn các bước tiếp theo.
“Mỗi cuộc gọi, tấm ảnh cũ hay mẩu giấy ghi bí danh đều có thể mở ra hy vọng. Dù khó, hành trình ấy chưa bao giờ dừng lại” - bà nghẹn ngào.
Tháng 7 vừa qua, công việc bất ngờ có thêm tiến triển khi bà Nga cùng câu lạc bộ xác minh được 4 gia đình trong số 49 liệt sĩ hy sinh đợt 1. Theo đó, ông Nguyễn Văn Phú và ông Phan Tùng Lê đều có cha hy sinh khi chiến đấu ở Bộ Tổng tham mưu. Sau nhiều năm tự tìm kiếm không có manh mối, họ tìm đến câu lạc bộ khi nghe tin khai quật.
Một trường hợp khác được xác minh từ tấm ảnh cũ do một đơn vị gửi đến. Bà Nga đã nhận ra ngay đồng đội của mình, dù vẫn thận trọng hỏi kỹ lại những người khác trước khi báo tin cho gia đình.
Ngoài ra, một chiến sĩ hy sinh tại Tòa Đại sứ Mỹ cũng được tìm lại danh tính sau nhiều năm. Gia đình không hề biết ông từng là biệt động Sài Gòn. Khi các thông tin được đối chiếu, người nhà đã bật khóc.
"Sau gần 60 năm, cuối cùng họ cũng có được câu trả lời" - bà nhẹ lòng nói.
Từ cô bé mồ côi đến nữ chiến sĩ biệt động
Nhớ lại những năm tháng chiến đấu, bà Nga kể về cơ duyên đến với cách mạng và những nhiệm vụ bà từng trải qua.
Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, bà Nga được một gia đình giàu truyền thống cách mạng tại Quảng Ngãi nhận nuôi. Những buổi lên núi tiếp xúc với các anh du kích, nhìn cảnh địch càn quét, đánh đập gia đình có người theo cách mạng đã gieo vào lòng cô bé tình yêu nước từ rất sớm.
Công tác khai quật tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng vẫn đang được triển khai. Đến nay, lực lượng chức năng đã quy tập hơn 500 hài cốt liệt sĩ và nhiều di vật kèm theo. Ảnh: Nguyễn Huế
Năm học lớp ba, bà từng chứng kiến cảnh địch kéo xác một thanh niên cách mạng ra giữa sân trường lúc trưa nắng, tuyên bố "Việt cộng bị quốc gia bắn" để răn đe học sinh.
"Đó là một trong những ký ức đau xót in sâu trong tâm trí tôi đến tận bây giờ. Cùng với truyền thống gia đình, hình ảnh ấy hun đúc trong tôi quyết tâm phải đi theo con đường cách mạng của cha anh" - bà Nga kể lại.
Năm 1963, mới 12 tuổi, bà được má nuôi dẫn vào Sài Gòn, giúp việc cho một gia đình ở đường Tân Hóa (quận 11 cũ). Tình cờ phát hiện một bức thư chúc Tết của Bác Hồ trong lúc dọn dẹp, bà nhận ra đây là cơ sở cách mạng và xin được kết nối.
"Tôi quyết định chia sẻ ý nguyện với chủ nhà, nhờ giúp tôi vào vùng giải phóng. Vậy là một buổi chiều tan tầm, có người đến đón tôi đi" - bà Nga kể. Hành trình hoạt động cách mạng của bà bắt đầu từ đó...
Đến năm 1966, cô bé 15 tuổi được tổ chức lựa chọn, cử đi học tại Trường quân sự T44 (nay là Trường Quân sự Quân khu 7), được đào tạo qua nhiều binh chủng: đặc công, công binh, pháo binh, bộ binh. Có dáng người nhỏ nhắn nhưng bà Nga luôn xung phong đi đầu trong các bài tập khó như lội bùn kiểu đặc công, leo tường, chui qua nhiều lớp hàng rào dây thép gai, bắn súng.
Bà Nguyễn Thị Bích Nga lúc còn trẻ. Ảnh tư liệu: NVCC
"Sau 8 tháng huấn luyện, tôi may mắn tốt nghiệp là học viên nữ xuất sắc của trường. Những người thầy dạy tôi khi đó có cả những chiến sĩ đặc công từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ, một người trong số họ sau này đã hy sinh trong đợt 1 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968" - bà Nga nghẹn ngào chia sẻ.
Trận đánh lớn đầu tiên của nữ chiến sĩ 16 tuổi
Tháng 8/1966, sau khi học xong, bà Nga được tổ chức đưa về hoạt động tại Ban Quân báo lực lượng Biệt động Sài Gòn (B8). Một tháng sau, bà được điều động học bắn súng cối 60 và 82 ly. Trận đánh lớn đầu tiên mà nữ chiến sĩ trẻ tham gia là trận pháo kích vào Sở chỉ huy của Tướng William Westmoreland (Tư lệnh Bộ chỉ huy Cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam).
Từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1967, Mỹ huy động 30.000 quân càn quét vùng Tam giác sắt (An Điền, An Tây, Phú An, tỉnh Bình Dương cũ), nhằm đánh vào Bộ Tham mưu của ta, đồng thời đẩy lùi các đơn vị chủ lực quân giải phóng.
Trong bối cảnh đó, Bộ Chỉ huy Quân khu Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo biệt động Sài Gòn tổ chức pháo kích vào Sở chỉ huy của Tướng Westmoreland.
Nhận lệnh, bà Nga cùng đồng đội nhanh chóng trở về nội thành Sài Gòn, chuẩn bị kế hoạch chiến đấu. Công tác chuẩn bị kéo dài trong nhiều tháng. Nòng pháo cối được vận chuyển từ Trảng Bàng (Tây Ninh) về, cất giấu bên trong một khúc gỗ tròn rồi bí mật đưa vào căn nhà cơ sở trên đường Vườn Chuối (quận 3 cũ). Đặc biệt, địa điểm này nằm giữa khu dân cư mà hai bên và đối diện đều là nhà của sĩ quan, cảnh sát chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Năm 16 tuổi, bà Nga đã cùng đồng đội sử dụng pháo cối 82 ly pháo kích vào Sở chỉ huy của Tướng Westmoreland. Ảnh: Nguyễn Huế
"Để tránh bị nghi ngờ, tôi và một đồng đội giả làm vợ chồng mới cưới, sống cùng một cơ sở cách mạng. Trên mái nhà có sẵn một ô rộng khoảng 1,2m² được khoét để bắn cối, cự ly đã được tính toán từ trước" - bà Nga nhớ lại.
Lúc 6h ngày 13/2/1967, tổ pháo kích khai hỏa. Đồng đội bà làm tổ trưởng kiêm xạ thủ số 1, bà là xạ thủ số 2 trực tiếp bắn. Kết quả là các loạt pháo kích đã trúng mục tiêu được nhắm đến, gây thương vong cho hàng chục binh lính Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Khi ấy, nữ biệt động mới 16 tuổi.
"Dù chưa hoàn thành trọn vẹn theo kế hoạch, trận đánh vẫn tạo tiếng vang lớn, khẳng định lực lượng ta có thể tiến công trực diện vào cơ quan đầu não của đối phương ngay giữa lòng thành phố" - bà Nga chia sẻ.
Lời hẹn với đồng đội trong Xuân Mậu Thân 1968
Tháng 3/1968, bà vinh dự được kết nạp Đảng ngay tại đơn vị. Trước giờ nổ súng đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 khoảng một tuần, các đơn vị đều tập trung học sa bàn, diễn tập kỹ lưỡng.
Những ngày cận chiến dịch, vùng giải phóng Củ Chi chật kín bộ đội, xe cộ và vũ khí, khí tài. Giữa không khí khẩn trương ấy, mỗi lần gặp nhau, mọi người chỉ kịp nói một câu ngắn gọn mà đầy niềm tin: "Hẹn gặp lại ở Sài Gòn".
Nữ biệt động Nguyễn Thị Bích Nga
Không một ai lo nghĩ đến việc hy sinh, chỉ háo hức hẹn gặp lại nhau giữa lòng Sài Gòn giải phóng.
"Vào thời điểm đó, tinh thần quyết chiến của quân dân ta rất cao. Từ người già đến người trẻ khi được giao nhiệm vụ đi chiến đấu là vô cùng phấn khởi. Chúng tôi đã nhận nhiệm vụ là quyết tâm hoàn thành, dù phải hy sinh” - bà Nga cười hiền chia sẻ.
Nhưng ngay trước trận đánh, bà bất ngờ lên cơn sốt rét ác tính nên bị giữ lại, không thể tham gia cùng đơn vị.
Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt những ngày sau đó. Đơn vị của bà Nga với 88 chiến sĩ kiên cường chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, 61 người anh dũng hy sinh.
Đến đợt 2 của chiến dịch, dù sức khỏe chưa hồi phục, bà Nga vẫn xin ra trận, được giao nhiệm vụ trong phân đội bắn pháo cối 60 ly vào Dinh Độc Lập. Tuy nhiên, trên đường vào nội thành, bà bị địch phát hiện và bắt giữ, khi vừa tròn 17 tuổi.
2 lần bị đày ra Côn Đảo
Xác định trước tâm thế "một là chiến đấu hy sinh, hai là bị bắt", bà giữ vững khí tiết trong suốt 7 năm bị giam qua nhiều nhà tù như Chí Hòa, Thủ Đức, Tân Hiệp và Côn Đảo...
Trong tù, nữ chiến sĩ biệt động luôn cùng tập thể thực hiện các cuộc đấu tranh, kiên quyết không khai báo, không chào cờ, không chấp hành nội quy nhà tù. Vì liên tục chống đối, bà Nga bị đày ra Côn Đảo 4 năm, trong đó một năm bị giam tại "chuồng cọp".
Năm 1968, giữa những ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân diễn ra ác liệt, bà Nga bị địch phát hiện và bắt giữ khi đang làm nhiệm vụ bày trận địa pháo cối 60 ly bắn vào Dinh Độc Lập. Ảnh Nguyễn Huế
"Tôi vẫn nhớ như in dãy phòng giam nhỏ hơn 2m² nhốt tới 5 người, mỗi ngày chỉ được chia chưa đầy một lon nước nhỏ. Cơm được phát lần lượt từ phòng số 1 đến phòng số 30 rồi mới quay lại mở cửa cho ăn. Trong thời gian chờ đợi, côn trùng đậu kín mặt tô cơm. Người tù bị còng chân vào bệ xi măng, việc sinh hoạt kể cả vệ sinh đều gói gọn trong không gian chật hẹp..." - bà Nga nhắc lại với nỗi ám ảnh còn chưa nguôi.
Dù vậy, các chiến sĩ tù chính trị như bà Nga vẫn giữ liên hệ tổ chức, động viên nhau học chữ, học lý luận chính trị.
Năm 1973, dù Hiệp định Paris được ký kết, bà không nằm trong diện được trao trả vì là tù không án. Đầu tháng 4/1975, một lần nữa bà lại cùng một số tù nhân bị đưa ra Côn Đảo.
Trong những năm tháng bị giam cầm nơi lao tù, động lực giúp chúng tôi đứng vững trước mọi đòn tra tấn chính là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của cách mạng và đặc biệt là tấm gương của Bác Hồ.
Bà Nguyễn Thị Bích Nga
Bà Nga cùng đồng đội nghe tin giải phóng Sài Gòn qua đài phát thanh ngay tại đảo. Chiều 4/5/1975, chuyến tàu đầu tiên đưa gần 600 cựu tù đau ốm, bệnh tật trở về đất liền, trong đó có bà...
Đến nay, ở tuổi 75, dù sức khỏe chịu nhiều ảnh hưởng bởi di chứng chiến tranh, bà vẫn thường xuyên một mình lái xe, lần theo từng địa chỉ, tấm ảnh, mẩu tin cũ, mong tìm và đưa những đồng đội đã nằm xuống gần 60 năm trước trở về với gia đình.
Bởi với bà, một người đã hy sinh chỉ thực sự trở về khi được gọi đúng tên, đúng quê quán và đúng gia đình. Bởi vậy, mỗi manh mối tìm được không chỉ là thêm một hồ sơ được hoàn tất mà là thêm một người đồng đội được nhớ đến.
"Dù chậm, dù khó, dù chỉ dựa vào từng manh mối nhỏ nhoi, hành trình thiêng liêng ấy vẫn chưa bao giờ dừng lại" - bà Nga khẳng định.