Cổ nhân nói "Sơn bất tại cao, hữu tiên tất linh" - Núi không cần cao, có tiên thì linh. Có thể nói ngoài địa thế được thiên nhiên ưu đãi thì bóng dáng những "ông đạo" và giai thoại ly kỳ của họ đã làm cho vùng Thất Sơn của Châu Đốc, An Giang trở thành linh địa.
Du ngoạn non Sam
Ngày trước đọc "Nửa tháng trong miền Thất Sơn" của Nguyễn Văn Hầu thấy tả cảnh
vào Thất Sơn thật là trần ai, phải lặn lội qua vô số kênh rạch như Cần Thảo, Cây
Dương, Vịnh Tre… chằng chịt. Còn bây giờ, đường vào núi Sam nói riêng và cả vùng
Thất Sơn huyền bí nói chung đều được khai thông lên tới đỉnh. Từ thị xã Châu Đốc
vào đến chân núi Sam chỉ 5km với con đường trải nhựa thẳng băng, đen nhánh, bóng
loáng như dải lụa Tân Châu. Hai bên bờ là đồng lúa bát ngát, thi thoảng ẩn hiện
vài ngôi chùa theo phái Tiểu thừa.
Núi Sam là ngọn núi gần nhất, có hình một chú sam biển khổng lồ. So với các rặng
núi hùng vĩ ở miền Trung, miền Bắc, núi Sam chỉ đáng gọi là một ngọn đồi vì chỉ
cao khoảng trên dưới 240m (có chỗ nói 228m hoặc 310m…). Nhưng "ngọn đồi" này
mang cả một di sản với nhiều di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng cấp quốc gia như
miếu Bà Chúa Xứ, Tây An cổ tự, Sơn lăng Thoại Ngọc Hầu, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh,
chùa Hang cùng bao thắng cảnh khác.
Núi Sam có tên chữ là Vĩnh Tế Sơn do Vua Minh Mạng ban cho lấy tên của bà Châu
Thị Tế - chánh thất của Thoại Ngọc Hầu, khi ông chỉ huy đào xong con kênh nối
liền từ Châu Đốc đến tận Hà Tiên từ năm 1819 đến 1824. Trước đó, núi Sam là vùng
đất trọng yếu của quân thứ An Giang đạo (tương đương cấp quân khu ngày nay) vì
địa thế hiểm trở, giáp biên giới Campuchia, từ trên đỉnh có thể bao quát cả vùng
Châu Đốc.
Trong bia Vĩnh Tế Sơn, Thoại Ngọc Hầu có nói: "Địa giới Châu Đốc xưa kia là khu
vực của Phiên man, nhờ triều đình khai thác cõi Nam, mới cho đất ấy nhập vào bản
đồ… Phía sau đồn có núi, mà lời tục thường quen gọi núi Sam. Nơi đây chầm ao,
rừng rú mênh mông rậm rạp… Đến nay, ánh sáng sớm sương tan, bóng chiều tà ráng
rọi, cây rậm rạp khoe xanh, cỏ là đà phô thắm. Bụi sạch trên đường, lên cao ngắm
nghía, dòng sông trải lụa, khách đi qua buông chèo nhàn ngoạn, tay trỏ non xanh
cùng nói với nhau: Đây là núi Vĩnh Tế, do vua ban tên đó!…".

Thất Sơn trùng điệp.
Con đường chạy lên đỉnh núi Sam được làm khá rộng, có thể đi bằng xe máy. Bên
triền núi rải rác những am, cốc lẩn khuất trong hốc đá lưa thưa mấy cụm hoàng
mai, phượng vĩ. Qua Bạch Vân tịnh xá, từ đỉnh núi có thể quan sát khắp thị xã
Châu Đốc, Thất Sơn, tỉnh Tà Keo của Campuchia, đồng lúa thẳng cánh cò bay hai
bên bờ kênh Vĩnh Tế… Người dân cho hay, vào mùa nước nổi hằng năm, nhiều khi cả
vùng đồng lúa bao la bị nhấn chìm trong nước bạc, núi Sam như một hòn đảo lơ
lửng giữa mênh mông.
Với địa thế hiểm yếu, hoang sơ xưa kia, vừa có đồng bằng trồng trọt, vừa có núi
rừng sát biên giới nên nhiều sĩ phu yêu nước của phong trào Cần Vương chọn vùng
núi Sam và Thất Sơn nơi đây làm căn cứ chuẩn bị lực lượng chống Pháp hoặc chờ cơ
hội nổi dậy như Thủ Khoa Huân, Phan Xích Long, Trần Văn Thành, Trương Gia Mô,
Huỳnh Mẫn Đạt, Doãn Uẩn…
Ông Nguyễn Văn Hầu có kể về chuyến đi Thất Sơn 7 ngày của chí sĩ Phan Bội Châu
để gặp gỡ nhà sư yêu nước Trần Nhựt Thi (nghi là bí danh của hòa thượng Phi Lai,
tức Ngô Lợi). Trước khi ra đi, Trần Nhựt Thi có ân cần dặn cụ Phan: "Phàm muốn
làm việc gì bí mật, có bàn bạc với nhau, chỉ nên ở giữa trời xanh ngày trắng,
hoặc ở đồng trống đường to, không nên ở chỗ đêm khuya nhà kín. Bởi trong đêm
khuya nhà kín, tai mắt mình không thể phóng được xa, chỉ làm thêm cho cơ hội
những món rình xét".
Mỗi năm có hàng triệu lượt người đến với núi Sam. Thu hút du khách đông nhất là
mùa lễ hội vía Bà vào cuối tháng tư âm lịch với trung tâm điểm là miếu Bà Chúa
Xứ, có tiếng là linh hiển. Miếu Bà được xây dựng đầu tiên vào khoảng năm
1820-1825 khi phát hiện ra tượng Bà trên đỉnh núi Sam. Theo nhà khảo cổ học
người Pháp Malleret thì tượng Bà Chúa Xứ là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật
thời trung cổ, thuộc loại tượng thần, được tạc theo dáng người ngồi, vật liệu
bằng đá sa thạch, có giá trị nghệ thuật cao.
Mé đối diện miếu Bà là ngôi chùa cổ Tây An nổi tiếng, nằm trên ngã ba núi Sam từ
Châu Đốc vào. Chùa do Tổng đốc An Giang là Doãn Uẩn lập từ năm 1847, sau được
các hòa thượng Nhất Thừa, Thế Mật trùng tu và nổi danh trong thiên hạ khi Phật
thầy Tây An Đoàn Minh Huyên về đây ẩn tu. Chùa Tây An mang phong cách kiến trúc
cổ truyền dân tộc kết hợp với kiến trúc nghệ thuật Ấn-Hồi. Chùa theo Phật giáo
Bắc tông, dòng thiền Lâm Tế, trong chùa có hơn 11.000 pho tượng mang giá trị
nghệ thuật và tôn giáo cao.
Cũng nằm bên sườn đông núi Sam là khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu cổ kính. Hai nhân
vật miền Trung có ảnh hưởng hết sức to lớn trong tâm thức của người dân miền Tây
Nam Bộ là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại. Cả
cuộc đời của Nguyễn Văn Thoại gắn liền với sự nghiệp khai phá mở cõi vùng biên
ải và nằm lại muôn đời ở núi Sam. Ông vốn người Tiên Phước, Quảng Nam, từ năm
1817 chỉ huy đào kênh Thoại Hà nối liền Đông Xuyên (Long Xuyên ngày nay) đến
Rạch Giá dài hơn 30km, rồi đào kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc tới Hà Tiên dài gần
100km, rộng hơn 36m và sâu 2,9m. Cho đến nay, hai con kênh này vẫn chiếm vị trí
quan trọng trong việc giao thương và phát triển nông nghiệp.
Trước khi qua đời vào năm 1829, Thoại Ngọc Hầu đích thân chỉ huy xây dựng sơn
lăng. Muốn lên lăng phải qua 9 bậc thang đá ong dài cả trăm mét vào sân lăng
rộng lớn có tiểu đình, dựng bản sao bia Thoại Sơn, đại bác, tượng nai, hổ… Phần
mộ Thoại Ngọc Hầu nằm giữa khuôn lăng, bên trái là mộ bà chính thất Châu Thị Tế,
bên phải là mộ bà thứ thất Trương Thị Miệt. Phía chân mộ có bi ký và 5 tấm bia
bằng đá sa thạch đã mòn chữ. Hai bên lăng chính còn có khoảng 50 ngôi mộ khác
cũng được xây bằng vôi và ô dước. Đó là phần mộ của những dân binh tử nạn khi
đào kênh Vĩnh Tế được Thoại Ngọc Hầu cho tìm mang về cải táng.

Đạo sĩ Thất Sơn hàng phục thú dữ (Tranh vẽ trong đền thờ quản cơ Trần Văn
Thành).
Đạo sĩ vùng linh địa
Giỏi bùa chú, trừ dịch bệnh, võ nghệ cao cường, hành hiệp trượng nghĩa là hình
ảnh lâu nay tạo nên danh tiếng "đạo sĩ Thất Sơn". Thực ra, những "đạo sĩ" này
không phải là giáo đồ của Đạo giáo hay Lão giáo kiểu Trung Hoa xưa. Họ không đọc
những Đạo đức kinh, Huỳnh Đình kinh hay Thái bình kinh là những kinh điển của
Đạo giáo. Những người tu hành trong hàng trăm am, miếu ở núi Sam và Bảy Núi đều
theo Phật giáo pha trộn tín ngưỡng dân gian. Những đạo giáo thuần túy Nam Bộ nơi
đây từ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo đến những đạo đặc biệt khác
như đạo Dừa, đạo Trần, đạo Ớt, đạo Nằm, đạo Tịnh… đều ra đời và phát triển trên
cơ sở nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tây An cổ tự dưới chân núi Sam chính là nơi hành đạo đến những ngày cuối đời của
Phật thầy Tây An - người sáng lập ra đạo phái yêu nước Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông tên
thật Đoàn Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, sinh năm 1807 ở Tòng Sơn, Sa Đéc. Sinh
ra trong một gia đình nông dân, từ nhỏ ông đã nuôi chí lớn, mê đọc kinh sách.
Năm 1849 mất mùa đói kém, dịch bệnh lan tràn, trộm cướp khắp nơi, Đoàn Minh
Huyên đi khắp nơi vừa giảng đạo, vừa chữa bệnh bằng thuốc Nam và bùa chú, cứu
chữa nhiều người đã khỏi bệnh. Dân chúng gọi ông là "Phật sống". Ông nhận đệ tử,
phát giấy nhập đạo (lòng phái), gọi tên đạo là Bửu Sơn Kỳ Hương và có bài thơ
truyền tụng: "Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên/ Sơn trung sư mạng địa Nam
tiền/ Kỳ niên trạng tái tân phục quốc/ Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên".
Bửu sơn tức là núi quý báu, tức là Thất Sơn; Kỳ hương tức là mùi thơm lạ. Theo
đó, sau thời mạt pháp, hội Long Hoa sẽ thành lập và cõi thiên đường hiện ra tại
Thất Sơn.

Tây An cổ tự.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lấy tứ đại trọng ân làm nền tảng, gồm: Ân tổ tiên cha mẹ,
ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào, nhân loại. Giáo đồ lấy đạo Phật làm căn
bản, không xuống tóc mặc cà sa, không thờ tượng cốt, chỉ treo tấm vải đỏ (trần
điều), không ăn chay, không gõ mõ tụng kinh. Vật phẩm dâng cúng chỉ dùng hương
hoa và nước lã đơn sơ. Chỉ cần giảng và nghe giáo lý chứ không cần ghi chép...
Ngoài việc truyền đạo, Đoàn Minh Huyên đưa đệ tử đến vùng đất phía tây Thất Sơn
và Láng Linh dựng chùa, lập trại ruộng, khẩn hoang lập ấp. Thực dân Pháp nghi
ngờ Đoàn Minh Huyên hoạt động chính trị, tập hợp loạn đảng nên ông bị Tổng đốc
An Giang bắt giam. Sau đó ông được thả ra, nhưng bắt buộc ông phải chính thức
xuất gia thọ giới theo nghi lễ của Phật giáo và tu tại Tây An cổ tự dưới núi Sam
để dễ kiểm soát.
Ngày nay, dưới chân núi Sam, bên chùa Tây An còn lưu giữ mộ phần của Phật thầy.
Ngôi mộ san bằng, không đắp nấm như lời dạy của ông trước khi viên tịch vào năm
1856 sau 7 năm giảng đạo.
Ảnh hưởng của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương rất mạnh ở Nam Bộ. Trừ đạo Cao Đài, những
giáo phái sau này ở Nam Bộ đều chịu tác động của Bửu Sơn Kỳ Hương. Khi triều
đình Huế đầu hàng thực dân Pháp, hầu hết các tín đồ của đạo đều tham gia vào
cuộc kháng chiến, trong đó có Nguyễn Trung Trực - người đốt cháy tàu chiến "Hy
vọng" của Pháp trên sông Nhật Tảo, Trần Văn Thành - tức đức Cố quản, người lãnh
đạo khởi nghĩa tại vùng Láng Linh - Bảy Thưa ở An Giang…
Tứ Ân Hiếu Nghĩa hay đạo Lành là đạo mạch tiếp nối của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tại
Thất Sơn. Người sáng lập tên thật là Ngô Viện, húy là Lợi, sinh năm 1831 tại Bến
Tre. Thầy Ngô Lợi tự học kinh sách và năm 20 tuổi đã viết Bà La Ni kinh, rồi lập
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa năm 36 tuổi (1876), tự xưng là đức Bổn sư. Thầy Ngô Lợi đưa
các tín đồ tới vùng An Lộc, An Giang dựng chùa rồi vào vùng Thất Sơn khai hoang
lập trại ruộng. Tứ Ân Hiếu Nghĩa thờ trần điều, thờ Phật, Sơn thần và trăm quan
cựu thần liệt sĩ. Pháp môn tu hành của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là: Trì niệm theo
Thiền tông; xử sự theo Nho giáo; Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo; ấn quyết,
thần chú theo Mật tông.
Về giáo lý thì như Bửu Sơn Kỳ Hương, lấy Tứ đại ân làm trọng, không ăn chay
trường và cũng hạn chế sát sanh. Từ năm 1881 trở đi, thực dân Pháp nhiều lần đem
quân đàn áp, triệt đạo, đốt chùa, bắt nhiều tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đày
ải. Năm 1888, thầy Ngô Lợi bị bắt nhưng trốn thoát nhờ sự che chở của dân chúng
và viên tịch tại núi Tượng 2 năm sau đó. Sau hơn 140 năm hình thành và phát
triển, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có khoảng 80.000 tín đồ, sống rải rác ở nhiều tỉnh,
thành Nam Bộ.
Còn nhiều, rất nhiều giai thoại về những "ông đạo" nổi tiếng ở Thất Sơn như Đơn
Hùng Tín (Luông Tín) luyện thành công phu "đao thương bất nhập"; Lê Văn Mưu lập
ra đạo ông Trần ở Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu); hai đại đệ tử của Phật thầy Tây
An là Tăng Chủ và Đình Tây, có thể bắt cá sấu thành tinh, hàng phục cọp dữ. Hay
đạo sĩ Bảy Do luyện võ ở núi Cấm, lập Nam Cực đường, thu phục dân chúng mưu đồ
đánh Pháp. Năm 1917, bị Pháp bắt giam tại khám Lớn Sài Gòn, rồi bị đày ra Côn
Đảo, ông đã cắn lưỡi tử tiết vào năm 1926, khi mới 45 tuổi.
(Theo ANTG)