Ông Mai Liêm Trực. Ảnh: Kim Long

Thuyết phục “mở” Internet

Để mở cửa cho Internet chính thức vào Việt Nam, 'mở' tư duy quản lý Internet là cả một hành trình dài và khó khăn.

Có thể nói, giới khoa học là những người đầu tiên giới thiệu Internet vào Việt Nam. Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông Mai Liêm Trực, lúc đó là Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện (TCBĐ), nhớ lại:

“Các nhà lãnh đạo Chính phủ khi đó rất lo việc tham gia mạng Internet toàn cầu thì tin tức nội bộ, bí mật sẽ bị lộ trên mạng. Các thế lực phản động sẽ lợi dụng mạng này để tuyên truyền chống phá nhà nước ta. Mặt khác cũng lo là những mặt tiêu cực của Internet ảnh hưởng đến văn hóa xã hội, như vấn đề khiêu dâm trên mạng, nhất là với thế hệ trẻ. Với Việt Nam vào thời gian ấy, Internet là khái niệm mới mẻ với xã hội và với cả các nhà lãnh đạo”.

Lúc đó phải làm rõ tại sao Việt Nam phải tham gia mạng Internet toàn cầu

Công việc của TCBĐ và các ngành liên quan lúc đó là phải làm rõ tại sao Việt Nam phải tham gia mạng Internet toàn cầu, đồng thời cũng làm rõ những khả năng về giải pháp kỹ thuật, quản lý cũng như đào tạo, giáo dục để hạn chế những mặt tiêu cực.

TCBĐ được giao trách nhiệm phối hợp với Bộ KHCN&MT và các ngành hữu quan xây dựng một số văn bản pháp quy để chuẩn bị cho việc tham gia Internet toàn cầu, như các văn bản quản lý khai thác dịch vụ, giá cước và chất lượng dịch vụ.

Chính phủ khi đó cũng thành lập BCĐ Quốc gia về Internet do Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm làm trưởng ban, Tổng cục trưởng TCBĐ làm phó trưởng ban cùng sự tham gia của một số bộ ngành liên quan như Bộ KHCN&MT, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và Bộ VHTT. Thời kỳ đầu, BCĐ này đã có nhiều cuộc họp để bàn bạc các phương án quản lý cũng như đưa ra các thông tư liên bộ.

Mở nhưng vẫn lo

“Quá trình báo cáo, thuyết phục các lãnh đạo Chính phủ ròng rã từ tháng 3 đến tháng 10/1997 và đến ngày 19/11/1997 thì lễ kết nối Internet toàn cầu chính thức diễn ra tại TCBĐ”, ông Trực nói.

Không nêu lại chi tiết những khó khăn của quá trình thuyết phục, nhưng ông Trực đã kể lại một vài kỷ niệm phần nào cho thấy được những lo lắng về tác động tiêu cực và nhận thức về Internet vào thời điểm đó.

“Khi các thành viên của BCĐ Quốc gia về Internet làm việc với Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và Thường vụ Bộ Chính trị. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu có hỏi: Những biện pháp kỹ thuật trong đó có “quả cầu lửa” (tường lửa) có chặn được lộ thông tin và thông tin xấu vào Việt Nam không? Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Khánh Toàn báo cáo là về mặt văn bản thì rất chặt chẽ. Tổng bí thư hỏi tiếp: Còn trong thực tế thì sao? Tôi (ông Trực) trả lời là không thể chặn tuyệt đối được vấn đề này, nhưng sẽ hạn chế tối đa ảnh hưởng bằng biện pháp kỹ thuật, quản lý hành chính và đào tạo nâng cao nhận thức”.

Thủ tướng dặn thêm "các cậu làm sao mở ra thì quản lý cho tốt, đừng để mở ra rồi bị đóng lại thì không biết ăn nói ra sao
             Ông Mai Liêm Trực
Ngay cả Thủ tướng Phan Văn Khải khi ấy cũng còn lo lắng sau khi quyết định cho mở cửa Internet với quốc tế. Ông Trực kể: “Khi các thành viên BCĐ đến xin ý kiến tham gia mạng Internet toàn cầu, sau khi nghe trình bày, Thủ tướng đồng ý nhưng đến khi tiễn ra sân, Thủ tướng dặn thêm “các cậu làm sao mở ra thì quản lý cho tốt, đừng để mở ra rồi bị đóng lại thì không biết ăn nói ra sao”.

Theo ông Trực, việc mở Internet thời điểm đấy là một nỗ lực rất lớn của các thành viên trong BCĐ Quốc gia về Internet. Giới khoa học cũng rất ủng hộ, thúc đẩy Việt Nam sớm tham gia Internet, trong đó phải kể đến những người như  GS. Đặng Hữu, cố GS. Nguyễn Đình Ngọc, TS. Nguyễn Quang A, TS. Bạch Hưng Khang, TS. Chu Hảo và đại diện những doanh nghiệp như ông Vũ Hoàng Liên, ông Trương Gia Bình, ông Trần Bá Thái.

Vẫn theo ông Trực, “về triển khai mạng điện thoại cố định, Việt Nam làm chậm hơn với các nước tiên tiến khoảng 40 năm, về di động Việt Nam chậm hơn thế giới khoảng 15 năm, còn Internet chậm hơn khoảng 7 năm.” Tuy nhiên, “trong điều kiện xã hội thời đó thì không có thể mở sớm hơn”.

Thuyết phục “mở” tư duy quản lý

Thời kỳ đầu mới mở, tốc độ kết nối Internet chỉ được vài chục Kb. Các khách hàng khi đó chủ yếu là người nước ngoài và các doanh nghiệp. Trong khi đó, do Internet còn mới mẻ và tâm lý lo ngại những tác động tiêu cực nên việc quản lý dịch vụ này rất chặt chẽ. Thậm chí, tư tưởng chỉ đạo cấp cao khi đó là “quản được đến đâu thì mở đến đó”.

Nếu quá lo lắng để hạn chế sự phát triển của Internet, sự phát triển của đất nước sẽ chịu tác động

Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, TCBĐ cũng như các bộ ngành trong BCĐ Quốc gia về Internet đã nhận thấy sức mạnh của Internet và những tác động lớn lao của Internet đối với sự phát triển kinh tế xã hội mà nếu quá lo lắng để hạn chế sự phát triển của Internet, sự phát triển của đất nước sẽ chịu tác động. Vì vậy, TCBĐ xây dựng một dự thảo nghị định mới trình Chính phủ với tinh thần chính là thúc đẩy sự phát triển của Internet ở Việt Nam và hoàn thiện các quy chế quản lý cho phù hợp với sự phát triển của Internet.

Đến ngày 23/8/2001, Nghị định 55 về quản lý, cung cấp và sử dụng Internet đã ra đời, thay thế các văn bản cũ. Nghị định này được đánh giá là một bước phát triển, mốc quan trọng cho sự phát triển của Internet nhờ một thay đổi lớn trong tư duy quản lý là “quản lý phải theo kịp với sự phát triển”.

Trên tinh thần quản lý cởi mở đó, Nghị định 55 cũng như các thông tư hướng dẫn cho nghị định này đã tạo bước phát triển đột phá và là cơ sở cho sự phát triển mạnh của Internet những năm sau đó.Nhưng để có được sự thay đổi có thể coi là một bước ngoặt trong tư duy quản lý Internet, “quá trình thuyết phục lãnh đạo cũng cam go không kém thời kỳ thuyết phục mở Internet”, ông Trực nói.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, Nghị định 55 và các văn bản cụ thể hoá nghị định này đã bộc lộ những điểm “chưa theo kịp sự phát triển”. Ví dụ, trong đợt tổng thanh tra các đại lý Internet toàn quốc vào cuối năm ngoái, các đoàn thanh tra liên ngành ở hầu hết các địa phương đã gặp không ít khó khăn trong việc xử lý vi phạm do trong văn bản quản lý các đại lý Internet có nhiều điểm chưa hợp lý hoặc quy định chưa cụ thể.

Các quy định pháp lý đều chỉ phù hợp trong một giai đoạn nhất định, nhất là với một lĩnh vực thay đổi nhanh như Internet. Theo ông Trực, “đã đến lúc phải sửa đổi, thậm chí là xây dựng một quy chế quản lý mới thay Nghị định 55”. Nhưng các quy định mới vẫn phải theo tinh thần “quản lý phải hỗ trợ cho sự phát triển, phù hợp với môi trường kinh tế xã hội Việt Nam trong điều kiện đã hội nhập quốc tế cũng như xu hướng hội tụ về công nghệ và dịch vụ giữa viễn thông, Internet và truyền thông”.

Đỗ Duy