![]() |
| Nội lực của CNTT Việt Nam vẫn còn mong manh, giá trị gia tăng mà ngành thu được còn khá thấp. Ảnh: Đ.N |
ICTnews -- Hàng loạt văn bản, chính sách liên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT như Luật, Nghị định chưa thực sự đi vào cuộc sống.
Đơn cử như 5 năm về trước, trong Quyết định số 95/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổng thể về CNTT giai đoạn 2002-2005 đã có ghi “đầu tư 2% ngân sách cho ứng dụng CNTT”, nhưng đến giờ này tỷ lệ này nhìn chung chưa thể vượt ngưỡng 1% ngân sách chi cho ứng dụng CNTT.
Ngay kể cả tác động của Nhà nước với tư cách là một khách hàng lớn nhất của ngành CNTT-TT Việt Nam (khi Chính phủ triển khai Đề án 112) trong năm qua cũng rất “mờ”, nhất là khi Đề án 112 có những dấu hiệu chệch choạc và bị buộc phải ngừng lại. Điều đó đã khiến “thị trường phần mềm chính phủ giảm sút” như báo cáo Toàn cảnh CNTT Việt Nam 2007 của Hội Tin học TP Hồ Chí Minh (HCA) và gây tác động không ít tới cả ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam, tuy ngành này vẫn giữ được mức tăng trưởng cao nhờ sự đóng góp của các dịch vụ nội dung số trong mảng thị trường phần mềm/dịch vụ.
Vai trò, tác động còn hạn chế của những chính sách quản lý cũng phần nào được thể hiện qua đánh giá tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ CNH, HĐH – một văn bản thực sự mang tính “cách mạng” vào năm 2000 nhưng vẫn không được quán triệt một cách thực sự, để rồi nhiều mục tiêu đặt ra đã bị “lỗi hẹn”.
Tăng trưởng chưa bền
3-4 năm vừa qua, phong trào máy tính thương hiệu Việt phát triển khá rầm rộ, khi bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể sử dụng công nghệ tuốc-nơ-vít, lắp ráp linh kiện nhập qua đường tiểu ngạch và gắn mác tự nghĩ để sản sinh ra những sản phẩm máy tính “thương hiệu”, ngõ hầu đẩy lùi thị phần của những chiếc máy tính “no-name”, tức là không tên tuổi và đánh bật những tên tuổi đại gia như HP, IBM, Dell... ra khỏi thị trường máy tính Việt Nam.
Phong trào đó có lúc lên rất cao, với những chiến dịch rầm rộ, nào là Máy tính Thánh Gióng, rồi máy tính Liên minh G6, hay liên minh nọ, hợp tác kia để có những chiếc máy tính giá đã rẻ, còn có máy rẻ hơn... Nhưng rồi khi chính sách quản lý và phát triển không theo kịp thực tiễn, khi các doanh nghiệp ít vốn, cung cách bán hàng, hậu mãi chưa chuyên nghiệp bắt đầu bộc lộ những điểm yếu của mình, khi các thương hiệu máy tính đại gia đẩy mạnh các chiến dịch quảng cáo rầm rộ, hậu mãi chu đáo... thì những phong trào, chiến dịch đó cứ âm thầm... xẹp xuống! Nhiều chuyên gia đang lo ngại, nếu với sự phát triển không-có-định-hướng như hiện nay, rất có thể ngành công nghiệp phần cứng – máy tính Việt Nam, vốn từng được đặt danh là “bé hạt tiêu”, sẽ tiêu... luôn theo “vết xe đổ” của ngành công nghiệp điện tử.
5 năm về trước, một anh bạn của tôi cũng đã “mơ” rằng, nếu Intel lập một nhà máy sản xuất chip tại Việt Nam, mỗi sản phẩm thông thường gắn bó với đời sống của mỗi gia đình Việt Nam sẽ tích hợp chip của Intel, nâng giá trị hàng hóa và giá trị của thương hiệu Việt Nam lên gấp nhiều lần. Khi đó mới đích thực là ứng dụng CNTT phục vụ đời sống con người.
Giờ đây, giấc mơ của anh bạn tôi đã thành sự thực khi Intel chính thức xây dựng “nhà máy tỉ đô la” tại Việt Nam. Nhưng giấc mơ đó mới thành một nửa khi tất cả những sản phẩm chip từ nhà máy này đều dành để xuất khẩu. Có nghĩa là họ chủ yếu tận dụng giá nhân công thấp của Việt Nam.
Tăng trưởng là điều mừng, nhưng tăng trưởng không có nền tảng bền vững lại là điều rất đáng suy tư. Ai dám chắc, khi CNTT toàn cầu lâm vào một cuộc “nổ bong bóng” dot.com như đầu những năm 2000, CNTT Việt Nam còn có thể bay cao?
Lê Minh
- Đọc toàn bộ bài viết tại báo Bưu điện Việt Nam số ra ngày 16/07/2007
