Tại hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử 2016 có chủ đề “Hạ tầng hiện đại, dịch vụ công thông minh, tăng cường minh bạch và gắn kết công dân” được Sở TT&TT Hà Nội và Tập Dữ liệu quốc tế  IDG phối hợp tổ chức ngày 30/3/2016, Tổng giám đốc FPT IS Phạm Minh Tuấn đã chia sẻ kinh nghiệm và bài học thực tiễn của FPT khi triển khai các giải pháp thành phố thông minh.

Từ cách đây 10 năm, FPT IS đã đặt ra sứ mệnh là kiến tạo và xây dựng những công trình thiết yếu để phục vụ đời sống công dân điện tử (e-Citizen). Đến nay, FPT IS đã tiến được vào phần lõi của cuộc sống đó thông qua việc triển khai một loạt dự án quan trọng như: Hệ thống quản lý thuế thu nhập cá nhân (PIT); Hải quan điện tử (FPTeCustoms); Hệ thống quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS); Chính quyền điện tử (FPTeGov); Y tế điện tử (FPTeHealth); Giao thông thông minh...

Đề cập đến xu hướng phát triển Chính phủ điện tử  (eGov) của thế giới, ông Tuấn cho biết, theo báo cáo của Liên hợp quốc, trên thế giới hiện có 193 quốc gia có website chính thức trên Internet và gần như 100% thành viên Liên hợp quốc có website. “Xu thế tương tác của hệ thống Chính phủ điện tử với người dân hiện nay người ta không nói nhiều đến phần mềm, hệ thống ứng dụng của eGov mà họ quan tâm đến cách thức tương tác với người dân như thế nào”, ông Tuấn nói.

Báo cáo của Liên hợp quốc cho thấy đang có sự chuyển dịch từ điện thoại cố định sang email, mạng xã hội, điện thoại di động và SMS. Từ năm 2012 đến 2014, số quốc gia sử dụng mạng xã hội đã tăng gấp 3 lần. Riêng trong năm 2014, số quốc gia sử dụng mạng xã hội đã tăng 50%. Hiện có tới 118 quốc gia sử dụng mạng xã hội như một kênh tư vấn trực tuyến cho người dân, 70 quốc gia sử dụng mạng xã hội để phục vụ cho Chính quyền điện tử. 

Cũng trong khoảng thời gian từ năm 2012 - 2014,  số quốc gia sử dụng ứng dụng mobile cho việc triển khai Chính phủ điện tử đã tăng gấp đôi; đồng thời SMS cũng đang nổi lên như là một kênh giao tiếp chính thức giữa chính quyền với người dân ở những khu vực có trình độ dân trí giới hạn hoặc điều kiện kinh tế còn hạn chế. Như vậy, 3 kênh chính tương tác giữa chính quyền với người dân hiện nay là mạng xã hội, mobile và SMS.

Bảng xếp hạng các quốc gia dựa trên chỉ số Chính phủ điện tử - eGov cho thấy năm 2014, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 99 trên thế giới, tụt 16 bậc so với năm 2012. Còn trong khu vực, Việt Nam xếp ở Việt Nam xếp ở vị trí thứ 5, sau Singapore, Malaysia, Bruney và Philippine.  Tuy nhiên theo đánh giá của Liên hợp  quốc, Việt Nam là nước có sự phát triển về Chính phủ điện tử so với những nước có cùng mức thu nhập. 

Nếu phân loại các giải pháp eGov theo 4 cấp độ gồm: Thông tin trực tuyến; Giao dịch trực tuyến; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành, liên kết trong ngành; Cơ sở dữ liệu liên ngành, liên kết các ngành thì Việt Nam đang nằm ở sự giao thoa giữa cấp độ Giao dịch trực tuyến và Cơ sở dữ liệu chuyên ngành, liên kết trong ngành.

Từ kinh nghiệm triển khai thực tế của FPT, ông Phạm Minh Tuấn cho rằng, thách thức đối với việc triển khai các giải pháp thành phố thông minh tại Việt Nam nằm ở 5 vấn đề chính là: Ngân sách; Quyết tâm của lãnh đạo; Phương thức triển khai; Quản lý thay đổi truyền thông; và Nguồn lực.

Nói về khó khăn, thách thức do ngân sách hạn hẹp, ông Tuấn chia sẻ: “Chúng ta là nước không có nhiều tiền, CNTT hiện đang được xếp ở “chiếu dưới”. Ngân sách được chia cho những việc lớn như giao thông, y tế.., khi còn lại ít nào thì CNTT mới được dùng đến. Và vì luôn trong tình trạng thiếu tiền nên đầu tư cho CNTT thường manh mún và cũng không có đủ tiền cho công tác duy tu, bảo dưỡng. Thực tế, với ứng dụng CNTT thì nhu cầu liên tục thay đổi, công nghệ cũng liên tục thay đổi; do đó nếu không có kinh phí để duy tu, bảo dưỡng phù hợp thì hệ thống sẽ ngày càng mai một, ngày càng xa rời thực tế”.

Cũng theo ông Tuấn, một vấn đề nữa liên quan đến ngân sách là quy trình quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách. FPT đang rất khó khăn trong việc này. Để lập một dự án CNTT mất khoảng từ 2-3 năm theo Nghị định 102 (Nghị định 102/NĐ-CP ngày 6/11/2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước-PV). Như vậy, quá trình ứng dụng CNTT không thể nhanh được. Thời gian lập dự án CNTT còn lâu hơn gấp  2, 3 lần so với thời gian phát triển, triển khai dự án.

“Một điểm bất cập nữa là trong quá trình triển khai, khi có vấn đề phát sinh, việc đưa ra các dự án nâng cấp còn tốn hơn nhiều. Vì vậy, các khách hàng lớn của FPT, mặc dù ngân sách ít ỏi, cuối năm còn thừa thì họ vẫn chọn phương án mua thiết bị, mua hạ tầng hơn là chọn phương án đầu tư vào phần mềm hay nâng cấp các ứng dụng hiện có”, ông Tuấn cho hay.

Cùng với ngân sách, quyết tâm của lãnh đạo cũng là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với thành công của việc triển khai xây dựng Chính quyền điện tử, thành phố thông minh. Ông Tuấn phân tích: “Việc ứng dụng CNTT có hiệu quả hay không phụ thuộc vào sự thay đổi của người dùng trong quy trình tác nghiệp. Nhìn chung thì người dùng không có thói quen thay đổi, do đó chỉ có sự quyết tâm của lãnh đạo mới có thể giúp dự án được triển khai nhanh chóng. FPT đã đi triển khai Chính quyền điện tử ở nhiều tỉnh thành. Kinh nghiệm ở Quảng Ninh hay TP.HCM cho thấy, tất cả các thay đổi phải xuất phát từ người đứng đầu tổ chức thì mới có thể giúp đẩy nhanh được quá trình triển khai”.

Về thách thức liên quan đến phương pháp triển khai, lãnh đạo FPT IS cho biết, hiện  nay có 2 xu hướng, một là triển khai ứng dụng CNTT theo kiểu “trăm hoa đua nở”, “nhà nhà” làm CNTT và đến một lúc nào đó việc kết nối liên thông găp rất nhiều khó khăn; xu hướng thứ hai là quá cầu toàn, lúc nào cũng yêu cầu phải có một  kiến trúc hoàn hảo trước khi bắt tay vào xây dựng những cái cụ thể. “Theo  kinh nghiệm của FPT, cách thức phù hợp nhất với Việt Nam là chúng ta chỉ cần đưa ra khung kiến trúc để định hướng xây dựng, phát triển các ứng dụng; và bắt tay ngay vào thực tiễn. Trong quá trình làm sẽ hoàn thiện dần kiến trúc”, người đứng đầu FPT IS chia sẻ.

Trên cơ sở nhận thức rõ các thách thức, Tổng giám đốc FPT IS khẳng định: “Với việc triển khai các giải pháp thành phố thông minh tại Việt Nam, chìa khóa thành công chính là cam kết của người đứng đầu và mô hình thuê dịch vụ CNTT. Có 2 yếu tố này, tôi tin tưởng sâu sắc rằng, tốc độ, tiến độ, hiệu quả của việc triển khai xây dựng thành phố thông minh, Chính quyền điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ có những chuyển biến đáng kể”.