Việc kiểm định BTS sẽ dần chuyển sang chế độ "hậu kiểm". Ảnh: Thanh Hải

Trạm BTS: Sẽ chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”

ICTnews - Báo BĐVN đã phỏng vấn ông Nguyễn Đức Trung, Phó cục trưởng Cục quản lý Chất lượng, Bộ TT&TT về kiểm định trạm BTS - một vấn đề đang được nhiều người quan tâm.

Để đảm bảo tính an toàn khi lắp đặt các trạm thu phát sóng di động (BTS)  trong khu vực dân cư, Bộ BCVT (nay là Bộ TT&TT) đã ban hành quy định kiểm định công trình viễn thông và các tiêu chuẩn có liên quan.

Hiện nay xã hội đang rất quan tâm đến việc kiểm định các trạm BTS. Vậy tại sao phải kiểm định và mục tiêu của việc kiểm định các trạm BTS?

Đối với công trình viễn thông, trong đó có trạm thu phát sóng di động BTS, việc triển khai công tác kiểm định là nhiệm vụ cần thiết do đặc thù của công trình viễn thông. Chẳng hạn, một số công trình viễn thông có nhiều phần thiết bị đòi hỏi độ an toàn chống sét cao, bảo đảm an toàn cho hệ thống thiết bị, cho người sử dụng, cho nhân viên khai thác; phải đảm bảo làm việc 24/24h và khi có sự cố sẽ làm gián đoạn liên lạc của rất nhiều khách hàng, ảnh hưởng tới lợi ích của cộng đồng.  Công tác kiểm định công trình viễn thông hiện tại được triển khai theo “Quy định về kiểm định công trình viễn thông” ban hành theo quyết định số 31/2006/QĐ-BBCVT và “Danh mục công trình viễn thông bắt buộc kiểm định” ban hành theo quyết định số 32/2006/QĐ-BBCVT. Theo các quy định nêu trên các công trình phải kiểm định trước khi đưa vào sử dụng sẽ không chỉ bao gồm các trạm thu phát sóng di động BTS mà còn một số công trình khác như trạm mặt đất thông tin vệ tinh, trạm truyền dẫn vi ba đường dài trong nước…

Mục tiêu của việc kiểm định các trạm BTS nói riêng, các công trình viễn thông nói chung là nhằm đảm bảo sự an toàn và chứng nhận công trình viễn thông phù hợp với các yêu cầu về an toàn chuyên ngành kỹ thuật viễn thông được quy định tại các tiêu chuẩn do Bộ TT&TT quy định bắt buộc áp dụng, bao gồm: an toàn tiếp đất bảo vệ, an toàn tiếp đất chống sét, an toàn trong trường bức xạ tần số radio và các tiêu chí an toàn khác theo quy định.       

Thưa ông, trong các vấn đề về an toàn nêu trên, vấn đề an toàn trong trường bức xạ đang thu hút mối quan tâm của xã hội. Ông có thể cho biết thêm làm sao để có thể xác định hay kiểm định được một trạm phát sóng BTS phù hợp với tiêu chuẩn và không gây ra mức phơi nhiễm lớn hơn tiêu chuẩn cho phép.

Đúng vậy, đây là vấn đề mà nhiều tổ chức và nhiều nước đã nghiên cứu trong thời gian qua. Tuy mức giới hạn phơi nhiễm đã được quy định, nhưng việc xác định một trạm phát sóng radio có phù hợp tiêu chuẩn hay không lại không dễ dàng trong thực tế. Từ trước đây một số nước cũng đã có nghiên cứu và cũng đã ban hành phương pháp để áp dụng trong việc đo mức phơi nhiễm sóng điện từ. Ví dụ như tại Úc có ban hành tiêu chuẩn AS 2772.2-1998 - nguyên tắc và phương pháp đo sóng điện từ trong dải tần đến 100 GHz, tại châu Âu có khuyến nghị phương pháp đo sóng điện từ ECC/REC/(02)04, một số nước khác như Mỹ, Nhật … cũng có các tiêu chuẩn, khuyến nghị tương tự. Tuy nhiên các khuyến nghị và tiêu chuẩn nêu trên nhìn chung còn dừng ở phần nhiều là lý thuyết và chưa hoàn toàn đồng nhất.

Những năm gần đây, châu Âu đã có nhiều nghiên cứu và ban hành một số tiêu chuẩn về phương pháp đánh giá sự phù hợp đối với mức phơi nhiễm do các trạm phát sóng radio gây ra. Cụ thể các tiêu chuẩn về phương pháp đánh giá sự phù hợp đối với mức phơi nhiễm có thể được chia làm 3 nhóm:

Thứ nhất là nhóm tiêu chuẩn về phương pháp đánh giá sự phù hợp đối với mức phơi nhiễm của trạm phát sóng radio điển hình bao gồm các tiêu chuẩn EN50383:2002, EN50384:2002, EN50385:2002. Nhóm tiêu chuẩn này nhằm đánh giá một trạm phát sóng với cấu hình cụ thể có bán kính gây mức phơi nhiễm vượt mức cho phép đến đâu trong môi trường của phòng thử nghiệm.

Thứ hai là nhóm tiêu chuẩn về phương pháp đánh giá sự phù hợp đối với mức phơi nhiễm của từng trạm phát sóng  radio tại từng vị trí lắp đặt cụ thể trước khi được phép đưa vào khai thác bao gồm các tiêu chuẩn EN50400:2006, EN50401:2006. Nhóm tiêu chuẩn này nhằm đánh giá mức độ gây phơi nhiễm của từng trạm phát sóng radio đã được lắp đặt đối với những khu vực xung quanh trạm phát sóng mà con người có thể tiếp cận được.

Thứ ba là nhóm tiêu chuẩn về phương pháp đánh giá sự phù hợp đối với mức phơi nhiễm dải rộng đến 300 GHz tại một khu vực cần khảo sát.  Phương pháp đánh giá của nhóm tiêu chuẩn này không nhằm đánh giá mức phơi nhiễm của một trạm phát sóng radio cụ thể nào mà là đánh giá mức phơi nhiễm tổng hợp của tất cả các trạm phát sóng radio gây ra tại một địa điểm cần khảo sát như trường học, bệnh viện…Nhóm tiêu chuẩn này đang được nghiên cứu và hoàn thiện để ban hành.

Với mục tiêu chuẩn hoá phương pháp đo đánh giá, kiểm định trạm phát sóng BTS trước khi đưa vào sử dụng, Bộ đã ban hành tiêu chuẩn TCN68-255:2006 trên cơ sở chấp thuận các tiêu chuẩn của châu Âu. Việc đo kiểm định mức phơi nhiễm do trạm phát sóng di động gây ra phải tuân thủ tiêu chuẩn này. Như vậy có thể nói Trạm BTS phù hợp với tiêu chuẩn sẽ không gây ra mức phơi nhiễm vượt quá mức giới hạn cho phép.

Trong tương lai, định hướng cho biện pháp kiểm định an toàn các trạm thu phát sóng BTS  sẽ được tiến hành như thế nào?

Như tôi đã khẳng định, việc quản lý, kiểm định các trạm phát sóng nói chung, trong đó đặc biệt là các trạm thu phát di động BTS là vấn đề ngày được các nước quan tâm thực hiện, do đặc thù các trạm BTS thường nằm ngay trong các khu dân cư sinh sống. Việc kiểm định từng trạm BTS là cần thiết do mỗi trạm BTS lại được lắp đặt tại 1 vị trí, địa hình khác nhau.  Xét từ góc độ quản lý nhà nước để triển khai việc kiểm định các trạm BTS có thể áp dụng các biện pháp thực thi khác nhau phù hợp với điều kiện thực tế. Hiện tại do đây là vấn đề mới, các doanh nghiệp và người dân còn chưa làm quen, vì vậy Bộ TT&TT chủ trương thực hiện theo định hướng quản lý. Tức là dùng các biện pháp quản lý mang tính áp đặt như phải có cơ quan đo kiểm được Bộ chỉ định mới được quyền đo kiểm định, dùng các biện pháp tiền kiểm trước khi cho phép các trạm BTS đưa vào sử dụng.Về lâu dài, việc kiểm soát tính an toàn của các trạm BTS sẽ vẫn không thể buông lỏng. Tuy nhiên khi nhận thức của xã hội, của doanh nghiệp đã nâng cao, Bộ sẽ giao dần cho doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về an toàn và tự đo kiểm trạm BTS, nhưng đi kèm với đó là cơ chế “hậu kiểm”.

Hiện nay doanh nghiệp cũng quan tâm đến vấn đề chi phí đo kiểm, kiểm định. Ông có thể cho biết thêm những quy định liên quan đến vấn đề này?

Theo quy định hiện hành, việc kiểm định được chia làm hai khâu riêng biệt, đo kiểm và kiểm định. Khi doanh nghiệp làm thủ tục xin kiểm định sẽ phải nộp các khoản phí và lệ phí cho cơ quản lý nhà nước. Đây là các khoản phí, lệ phí thuộc Ngân sách nhà nước và mức thu do Bộ Tài chính quy định. Hiện tại các mức thu này được áp dụng theo quy định tại quyết định số 24/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính. Liên quan đến chi phí đo kiểm, để giảm thiểu tối đa cho doanh nghiệp, Bộ không quy định các định mức hay đơn giá cho việc đo kiểm. Chi phí đo kiểm sẽ do các doanh nghiệp và đơn vị đo tự đàm phán quyết định thông qua các hình thức đấu thầu hay lựa chọn thầu phù hợp với cơ chế của từng doanh nghiệp, sao cho giảm thấp nhất chi phí đo kiểm định và đem lại cao nhất hiệu quả cho doanh nghiệp. Hiện tại Bộ TT&TT đã xem xét và chỉ định 8 đơn vị đủ điều kiện và được phép đo kiểm định công trình viễn thông.

Xin cảm ơn ông!

Thái Khang (Thực hiện)

  • Đọc toàn bộ bài viết đăng trên báo Bưu điện Việt Nam số 66