Trọng "cứng", khinh "mềm"
Một báo cáo về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin cho thấy doanh nghiệp đổ tiền đổ của cho mua thiết bị mà ít chi tiêu cho phần mềm, đào tạo nhân lực vận hành.
Theo báo báo “Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ Việt Nam giai đoạn 2005-2006 và đánh giá toàn diện về cơ hội thị trường” của Tổ chức Đối tác tiếp cận thị trường quốc tế (AMI Partner), trong tổng số hơn 730.000 doanh nghiệp có quy mô nhỏ của Việt Nam, chỉ có khoảng 10% số doanh nghiệp có trang bị máy tính. Còn theo cuộc điều tra “Thực trạng ứng dụng CNTT-TT trong doanh nghiệp Việt Nam” được công bố ngày 23/3/2006, bức tranh ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp đã được bổ sung nhiều nét vẽ mới hơn...
Cuộc điều tra này do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp cùng Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế tại Việt Nam (IDG Việt Nam) thực hiện nhằm đánh giá tổng quan thực trạng ứng dụng CNTT-TT trong doanh nghiệp năm 2004-2005. Đã có 2.233 doanh nghiệp tại 5 thành phố lớn là Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ tham gia cuộc điều tra này.
Trong số các doanh nghiệp tham gia cuộc điều tra, chiếm số lượng lớn nhất là các doanh nghiệp trong các lĩnh vực phân phối và bán lẻ (25%); sản xuất (23,4%); dịch vụ kinh doanh (17,7%) và hạ tầng cơ sở (12,4%). Có 53,5% các công ty TNHH, 15% doanh nghiệp nhà nước. Chiếm số lượng lớn nhất là các doanh nghiệp có quy mô từ 10-50 nhân viên (gần 46%); 26,2% doanh nghiệp có 100-500 nhân viên và số doanh nghiệp có dưới 10 nhân viên chiếm 13%. Các doanh nghiệp tại Hà Nội và TP. HCM chiếm tới 86%.
“Cứng” nhiều, “mềm” ít
Trong tổng máy tính và thiết bị ngoại vi trong doanh nghiệp, số lượng máy tính để bàn chiếm 67,1% (nhóm ngành sản xuất có tỷ lệ máy tính để bàn lớn nhất), tiếp theo là máy in (20%), máy tính xách tay (7,5%), máy quét (scan) 3% và máy chủ 2,3%.
Về ứng dụng phần mềm, số lượng phần mềm chuyên dùng chiếm tới 79,2%, trong đó đa số là các phần mềm kế toán. Thị trường phần mềm kế toán dường như rất đa dạng khi Top 10 phần mềm kế toán thông dụng nhất cũng chỉ chiếm 35% thị phần.
Các phần mềm tin học văn phòng chiếm tỷ lệ 19,7%. Rất đáng chú ý là phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) chỉ chiếm 1,1%. Trong đó, ngành sản xuất đứng đầu trong ứng dụng ERP.
Tỷ trọng đầu tư cho CNTT trong doanh nghiệp cho thấy các doanh nghiệp chi tiêu cho phần cứng chiếm 59,9%, trong khi chi tiêu cho phần mềm chiếm 10,9%; đầu tư cho Internet và website chiếm 12,7%; dịch vụ 9,8%; đào tạo 4,8% và phụ kiện 1,8%. “Tỷ lệ đầu tư này cho thấy sự bất hợp lý giữa chi tiêu cho phần cứng và phần mềm so với tỷ lệ chung của thế giới. Hơn nữa, chi tiêu cho đào tạo (4,8%) là quá thấp để nâng cao kỹ năng CNTT cho đội ngũ nhân viên doanh nghiệp”, ông Nguyễn Trí Thanh, Trưởng phòng tin học của Viện Tin học Doanh nghiệp nhận xét.
Thương mại điện tử: Rất hạn chế
Về sử dụng các dịch vụ CNTT, có tới 96% doanh nghiệp không sử dụng dịch vụ tư vấn CNTT, 91,9% doanh nghiệp không sử dụng dịch vụ thiết kế web và có 24% doanh nghiệp không sử dụng bất cứ dịch vụ CNTT nào. “Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng cũng như chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ CNTT bên ngoài”, ông Thanh nói, đồng thời cho biết thêm: Với những doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ CNTT, họ nhờ đến các cửa hàng máy tính là nhiều nhất (37,4%), các dịch vụ chuyên nghiệp chỉ đứng ở vị trí thứ 2 trong sự lựa chọn của doanh nghiệp với 31,3%. Số doanh nghiệp sử dụng ngay đội ngũ nội bộ ở các dịch vụ CNTT chiếm 21,4%.
Đáng chú ý, có tới 91% số doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đã kết nối Internet (trong đó kết nối Internet tốc độ cao ADSL chiếm 55%). Tuy nhiên, có 71,1% các doanh nghiệp không xây dựng website riêng cho mình. Chỉ có 2,7% doanh nghiệp cho biết họ có ứng dụng các hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) trong doanh nghiệp. “Con số 97,3% doanh nghiệp không ứng dụng các hoạt động TMĐT nói lên một điều rằng nhận thức về TMĐT của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế, họ chưa thực sự tin tưởng vào phương thức kinh doanh mới này”, ông Nguyễn Văn Thảo, Phó Tổng thư ký VCCT nhận định.
Doanh nghiệp cung cấp giải pháp CNTT: Năng lực còn yếu
Các doanh nghiệp được điều tra cho biết Internet và ấn phẩm là kênh thông tin quan trọng để họ tham khảo trước khi đầu tư mua sắm các sản phẩm CNTT (với tỷ lệ 35,1%); bên cạnh hình thức thông tin tờ rơi, brochure (35,7%). Hình thức giới thiệu truyền miệng cũng khá hiệu quả với tỷ lệ lắng nghe 18,4%. Tiếp theo là kênh thông tin về bảng biển/pano quảng cáo (9,8%), và các hoạt động marketing xếp cuối cùng với 0,9%.
Cuộc điều tra này cũng phản ánh một thực tế là năng lực của các nhà cung cấp sản phẩm/giải pháp CNTT của Việt Nam còn rất hạn chế và rất “lép vế” so với các thương hiệu nước ngoài. “Dịch vụ của các doanh nghiệp CNTT trong nước cũng chưa tạo được nhiều niềm tin nơi khách hàng. Tuy nhiên, những hạn chế đó cũng chính là cơ hội để các doanh nghiệp CNTT phát triển mạnh hơn nữa và sẽ tác động trở lại đối với việc ứng dụng CNTT trong nền kinh tế”, ông Nguyễn Trí Thanh nhận xét.
Kết quả điều tra vừa được công bố chỉ đánh giá hiện trạng ứng dụng CNTT-TT trong các doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông Nguyễn Văn Thảo, việc đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT mang lại cho doanh nghiệp sẽ được thể hiện trong một cuộc điều tra khác mà VCCI đang tiến hành thực hiện trong năm 2006.
Lê Minh