(TuanVIetNam) - Nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc coi mình là một thành viên của thế giới đang phát triển. Tuy nhiên, lợi ích của họ và các nước đang phát triển khác đang khác biệt nhau đáng kể. Trung Quốc hoàn toàn không thể trở thành một nhà lãnh đạo kinh tế thế giới. Nói cách khác, các điều kiện kinh tế không cho phép nước này "ngồi chiếu trên" của nền kinh tế thế giới cùng với Mỹ.

>> Kỳ 1: Cải cách hệ thống kinh tế quốc tế: Trung Quốc muốn gì?

Quản lý kinh tế quốc tế: G2, G7 hay G20?

Kiến trúc quốc tế chính được xây dựng trong thời hậu chiến tập trung vào hệ thống Liên hợp quốc. Đại diện cho hơn 200 quốc gia thành viên, đây cũng là tổ chức quốc tế dân chủ nhất. Hệ thống  Bretton Woods có hai thể chế kinh tế chính quản lý các vấn đề kinh tế quốc tế: IMF, phụ trách giám sát vĩ mô và ổn định tài chính; và WB có nhiệm vụ giảm đói nghèo và phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. Bên cạnh đó có WTO, tổ chức giúp duy trì luật pháp và trật tự trong trao đổi hàng hóa và dịch vụ quốc tế.

Tất cả các thể chế này đóng những vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện phát triển kinh tế thế giới thời kỳ hậu chiến tranh. Nhưng chúng cũng có một số thiếu sót lớn. Vì hoạt động chủ yếu trên nguyên tắc đồng thuận, nên các tổ chức này thường khó đưa ra các quyết định nhanh chóng. Ví dụ 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ - là Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc - đều có lá phiếu phủ quyết và thường bất đồng với nhau trong nhiều quyết định quan trọng. Tình trạng này đặc biệt xảy ra trong thời chiến tranh Lạnh.

Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) là một lời đáp của Mỹ và các đồng minh chính của nước này trước tình hình không mong muốn trên. Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản, Italy và Canada đã thành lập một nhóm mới bên ngoài hệ thống LHQ/Bretton Woods để quyết định các vấn đề kinh tế và chính trị hệ trọng toàn cầu. Các nước này có một số lợi ích chung. Họ đều là các nền kinh tế công nghiệp hóa và các nước dân chủ, và đều ủng hộ mạnh mẽ về chính trị đối với vai trò lãnh đạo của Mỹ trong các vấn đề toàn cầu.

Nhưng rõ ràng, G7 gặp một vấn đề mang tính pháp lý vì không được thành lập thông qua các thỏa thuận đa phương (G7 sau này mở rộng thành G8, thêm Nga, sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Chính vì vậy nhóm này thường được gọi là "câu lạc bộ của các nước giàu"). Nhưng trong một thời gian khá dài, đặc điểm này không gây ra bất cứ vấn đề thực tế nào cho G7.

Cuối cùng, với hơn một nửa GDP toàn cầu, G7 có thể đơn phương ra các quyết định quan trọng. Và các quyết định này, đến lượt chúng, lại có tầm ảnh hưởng lớn đối với các định hướng của nền kinh tế thế giới, vốn không nhất thiết phù hợp với lợi ích của các quốc gia khác. Vai trò của các nền kinh tế khác, dù họ có ủng hộ hay không các quyết định của G7, đều không được nếm xỉa đến.

Thỏa ước Plaza nổi tiếng là một ví dụ điển hình cho một thỏa thuận đơn phương như thế. Ngày 22/9/1985, các chính phủ Pháp, Đức, Nhật Bản, Mỹ và Anh đã ký một thỏa ước tại Khách sạn Plaza ở New York để giải quyết vấn đề bất cân bằng toàn cầu. Thỏa thuận này đòi hỏi các nước có thặng dư cán cân thanh toán - Nhật Bản và Tây Đức - phải nâng giá đồng tiền và tăng cường chi tiêu công, trong khi các nước thâm hụt ngân sách - Mỹ và Anh - phải phá giá đồng tiền của mình và giảm thâm hụt ngân sách. Thỏa thuận này chỉ có tác động giảm bất cân bằng trong một thời gian ngắn.

Thỏa ước Plaza có phải là một thỏa thuận tốt hay không lại là vấn đề khác. Văn bản này tập trung vào các chính sách tiền tệ và tài chính trong ngắn hạn, nhưng không giúp giải quyết gốc rễ các vấn đề của bất cân bằng. Các vấn đề bất cân bằng của các nền kinh tế lớn này đã tái diễn trong những thập kỷ tiếp theo, gây ra tình trạng bất cân bằng toàn cầu mà thế giới đang phải đối mặt ngày nay.

Với sự tăng trưởng nhanh chóng của các nền kinh tế thị trường mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc, trong các thập kỷ qua, cả G7 hay G8 đều không còn là cơ chế thích hợp nữa để hoạch định chính sách quốc tế. Một Thỏa ước Plaza khác của G7 ngày nay sẽ càng không có hiệu lực trong việc giải quyết vấn đề bất cân bằng toàn cầu.

WB đánh giá rằng, dựa trên cân bằng sức mua (PPP), GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là 6.828 đôla (đôla quốc tế) vào năm 2009, trong khi theo con số thống kê chính thức là 3.744 USD. Tuy nhiên, theo dự án Penn World Tables (PWT), dữ liệu về thu nhập tính theo PPP của WB vẫn đánh giá thu nhập của Trung Quốc thấp hơn 20% vì ước tính giá cả quá cao. Như vậy đúng hơn, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2013.

Sự nổi lên của nền kinh tế Trung Quốc đã thay đổi cơ bản nền kinh tế toàn cầu trong quá khứ, nhưng trong tương lai sẽ không phải vậy. Mỹ và Trung Quốc gần đây kêu gọi thành lập nhóm hai nước (G2) để quản lý các vấn đề quốc tế. G2 là một ý tưởng cách tân, đáp ứng nền kinh tế thế giới đang đổi thay hàng ngày. Việc Mỹ và Trung Quốc, một bên đại diện cho các nền kinh tế công nghiệp hóa và bên kia đại diện cho các nền kinh tế thị trường mới nổi, cùng nhau lãnh đạo chắc chắn phù hợp hơn với thực tế kinh tế thế giới mới. Tuy nhiên, lời đáp của giới lãnh đạo Trung Quốc đối với đề nghị này là không thuận. Có thể vì nhiều lý do.

Thứ nhất, trong khi là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nhưng vì có số dân đông nhất thế giới nên Trung Quốc vẫn là một nước có mức thu nhập trung bình thấp. GDP bình quân đầu người của nước này vẫn xếp thứ 85 trên tổng số 180 quốc gia trong bảng xếp hạng của IMF, và như vậy nước này vẫn còn một con đường dài phía trước để tới biên giới kinh tế thế giới. Trung Quốc hoàn toàn không thể trở thành một nhà lãnh đạo kinh tế thế giới. Nói cách khác, các điều kiện kinh tế không cho phép nước này "ngồi chiếu trên" của nền kinh tế thế giới cùng với Mỹ.

Thứ hai, Trung Quốc không có được sự ủng hộ cần thiết của toàn cầu để trở thành một phần của G2. Nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc coi mình là một thành viên của thế giới đang phát triển. Tuy nhiên, lợi ích của họ và các nước đang phát triển khác đang khác biệt nhau đáng kể. Trong khi Trung Quốc có những lợi ích chung với các nền kinh tế thị trường mới nổi - bằng chứng là sự hợp tác trong khối BRICS và ASEAN +3 - Trung Quốc lại không có một vai trò lãnh đạo rõ ràng trong các nước đang phát triển giống như Mỹ đang có đối với các nền kinh tế công nghiệp hóa. Trong một chừng mực nào đó, ngồi vào "chiếu trên" với Mỹ có thể làm yếu đi liên minh hiện nay của Trung Quốc với các nền kinh tế thị trường mới nổi khác.

Ảnh: worldpress
Thứ ba, Trung Quốc là trung tâm của các rắc rối trong nhiều vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu và bất cân bằng toàn cầu. Một cơ chế G2 sẽ có thể biến Trung Quốc thành trung tâm của các căng thẳng toàn cầu này. Một khuôn khổ đa phương sẽ có lợi hơn cho Trung Quốc - cả về mục tiêu thương lượng và về khả năng giải quyết các vấn đề này.

Cuối cùng, Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng trở thành một nhà lãnh đạo chủ chốt của nền kinh tế thế giới. Họ vẫn đang học để biết các luật lệ hiện nay. Một số nhà hoạch định chính sách than phiền rằng Trung Quốc không có một kho đủ các nhân tài có thể tham gia các cuộc thương lượng kinh tế quốc tế. Các ràng buộc chính trị cũng khiến việc tham gia của Trung Quốc vào việc đặt ra luật chơi quốc tế trở nên khó khăn hơn. Ví dụ, các nhà đàm phán Trung Quốc thường không có đủ quyền tự quyết trong các thỏa thuận với các đối tác khác tại các diễn đàn quốc tế.

Nói ngắn gọn, Trung Quốc chưa có khả năng thể chế để trở thành một người đặt luật chơi chính bên cạnh Mỹ. Tất nhiên những điểm trên không có nghĩa là các phối hợp song phương giữa Mỹ với Trung Quốc trở nên kém phần quan trọng. Ngược lại, đối thoại và hợp tác giữa nền kinh tế công nghiệp hóa lớn nhất thế giới với nước đang phát triển lớn nhất thế giới vẫn có vai trò sống còn trong việc quản lý các vấn đề kinh tế quốc tế quan trọng. Quan hệ đối tác Mỹ - Trung có thể là quan hệ song phương lớn nhất không chỉ đối với Trung Quốc mà còn đối với toàn thế giới. Đối thoại Chiến lược và Kinh tế thường kỳ Mỹ - Trung được xem là một ví dụ điển hình cho quan hệ đối tác trong việc giải quyết các vấn đề song phương.

Vì các lý do kể trên, Chính phủ Trung Quốc ủng hộ cơ chế G20 trong việc quản lý kinh tế quốc tế. G20 được thành lập vào năm 1999 tại Đức như một diễn đàn cấp bộ trưởng, ngay sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á. Trong thời điểm cao trào của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008, Tổng thống Mỹ khi đó George W. Bush đã kêu gọi một hội nghị thượng đỉnh G20 tại Washington để thảo luận các hành động tập thể chống lại khủng hoảng và suy thoái. Nhóm này đã bắt đầu các cuộc họp thượng đỉnh mỗi năm hai lần, và trở thành một cơ quan ra quyết định kinh tế đầy quyền lực.

G20 đã đạt tiến bộ lớn trong việc kiểm soát nguy cơ tài chính, hỗ trợ phục hồi kinh tế và cải cách các hệ thống điều tiết tài chính. Giống như G7, G20 có một vấn đề về pháp lý, vì 20 quốc gia thành viên không được bầu bởi các quốc gia khác. Nhưng, như cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd từng nói, G20 là sự kết hợp tốt nhất giữa tính hiệu quả và tính đại diện. G20 có 11 thành viên là nước đang phát triển. Trong khi đó, các nước G20 chiếm hơn 80% nền kinh tế và dân số toàn cầu. Họ có thể ra các quyết định quan trọng có thể ảnh hưởng tới các xu hướng trong nền kinh tế thế giới.

Bên cạnh tiến bộ của G20, các nước BRIC cũng đã trở thành một nhóm quan trọng trong các vấn đề quốc tế. Ngày 16/4/2009, các lãnh đạo Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Nga để thảo luận một số vấn đề kinh tế quốc tế. Hai năm sau đó, các lãnh đạo này đã mời Tổng thống Nam Phi tham dự hội nghị thượng đỉnh BRICS tại Trung Quốc. Các lãnh đạo đã nhất trí về một loạt các vấn đề, trong đó có ủng hộ cải cách hệ thống dự trữ tiền tệ toàn cầu, thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư và thúc đẩy hợp tác kinh tế với nhau. Vẫn chưa rõ liệu BRICS sẽ có thể trở thành một tổ chức quốc tế được cấu trúc chặt chẽ như G7 hay G20 hay không, nhưng nhóm này có thể trở thành một hạt nhân quan trọng trong G20, giúp hình thành các đề xuất chính sách cho các thành viên là các nước đang phát triển.

Cải cách IMF: quyền bầu cử, các lãnh đạo cấp cao và phiếu phủ quyết

Trong khi thượng đỉnh G20 đã trở thành một cơ chế hùng mạnh trong việc hoạch định kinh tế quốc tế, đây vẫn chưa phải là một tổ chức quốc tế bình thường. Để trở thành một thể chế kinh tế thường trực và ổn định, G20 cần phát triển hơn nữa trong ít nhất hai mặt.

Một là cách quản lý các hoạt động hàng ngày của thượng đỉnh G20. Và hai là thực thi các quyết định của G20. Để đạt được điều này, G20 phải thành lập một ban thư ký thường trực. Có thể sử dụng các thể chế quốc tế hiện nay như IMF để thực thi các quyết định chính sách quan trọng, như điều tiết tài chính, chính sách tiền tệ và giám sát kinh tế vĩ mô.

Nhưng các tổ chức quốc tế trong dạng thức hiện nay của nó không phù hợp lắm để thực hiện các nhiệm vụ như vậy. Lấy ví dụ là IMF, quan hệ của tổ chức này với nhiều quốc gia không thân thiện cho lắm, nhất là với những nước bị tác động bởi các cuộc khủng hoảng tài chính. Trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, IMF cung cấp hỗ trợ tài chính cho các quốc gia bị ảnh hưởng - chủ yếu là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan. Nhưng sự hỗ trợ đó đi kèm với các điều kiện nghiêm ngặt về chính sách, đòi hỏi các nền kinh tế này thắt chặt chính sách tài chính, tăng lãi suất và đóng cửa các thể chế tài chính yếu kém.

Các biện pháp như vậy có thể đẩy các nền kinh tế này lún sâu hơn vào suy thoái. Các chính sách này cũng khiến IMF phải trả giá bằng lòng tin và sự tín nhiệm của một số nhà hoạch định chính sách ở châu Á. Một số lãnh đạo châu Á sau đó trở nên thờ ơ với vai trò quốc tế của IMF. Khi thảo luận về các vấn đề hợp tác tiền tệ và tài chính khu vực châu Á, một số quan chức nói rõ rằng họ không ủng hộ bất kỳ sáng kiến nào liên quan đến IMF.

Một ví dụ khác là trong thời khủng hoảng tài chính toàn cầu: khi Hàn Quốc cần hỗ trợ tiền mặt từ bên ngoài cuối năm 2008, họ đã hỏi đến Cục Dự trữ liên bang Mỹ, chứ không phải IMF. Diễn biến này đã làm suy yếu đáng kể vai trò của IMF là nhà cho vay toàn cầu trong trường hợp khẩn cấp. Các trải nghiệm xấu này với IMF được phản ánh một phần trong việc áp dụng cứng nhắc các niềm tin kinh tế thông thường của các tổ chức: quan trọng là củng cố nguyên tắc thị trường ngay cả trong thời khủng hoảng tài chính nhằm tránh các vấn đề rủi ro liên quan đến đạo đức. Ví dụ không đóng cửa các thể chế tài chính vỡ nợ sẽ làm gia tăng nguy cơ thái quá trong tương lai. Tuy nhiên, các hành động như vậy gây bất ổn các điều kiện xã hội và kinh tế vĩ mô trong các cuộc khủng hoảng tài chính.

Thật may mắn là quan điểm chính sách của IMF đã bắt đầu thay đổi. Vào lúc cao trào của cuộc khủng hoảng sub-prime tại Mỹ, Bộ Tài chính đã bơm tiền cho một loạt các thể chế tài chính lớn nhằm tránh sự lây lan nguy cơ nhanh chóng.

Tuy nhiên, các tổ chức quốc tế gặp một vấn đề lớn: họ bị chế ngự bởi Mỹ và các nền kinh tế công nghiệp hóa khác. Vì vậy các nội dung chính sách thường được đưa ra từ những kinh nghiệm của các nền kinh tế thị trường tiên tiến. Một số chính sách này rõ ràng không phù hợp với các nước đang phát triển và gây ra những hậu quả đau đớn. Ví dụ IMF nói chung ngăn cản bất cứ sự hạn chế nào đối với các dòng tư bản xuyên biên giới. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đang phát triển không đủ mạnh để chống lại các dòng vốn ngắn hạn không ổn định vì chất lượng kém của các thể chế và cung cách quản lý tài chính của họ. Đây là một trong những lý do khiến các nước đang phát triển phải trải qua các cuộc khủng hoảng tài chính liên tục trong những thập kỷ qua.

Các nền kinh tế đang phát triển không ảnh hưởng nhiều đến các quyết định được đưa ra tại hầu hết các thể chế kinh tế quốc tế. Ví dụ hạn ngạch SDR của mỗi quốc gia theo IMF là kết quả trung bình của GDP (50%), mức độ mở cửa (30%), độ mềm dẻo của nền kinh tế (15%) và dự trữ quốc tế (5%). Cách tính này rõ ràng có lợi cho các nước công nghiệp hóa. Mỹ chiếm 17% tổng phiếu bầu, cho phép Mỹ gây ảnh hưởng tới các quyết định của IMF.

Trong nhiều năm liền, với sự tăng trưởng nhanh chóng tại các nền kinh tế thị trường mới nổi, sự phân bổ hạn ngạch SDR đã trở nên càng bất cân bằng hơn. Tây Âu có tỷ lệ đại diện lớn hơn nhiều so với sức nặng kinh tế của họ. Trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nước BRIC chiếm tổng cộng 40% dân số thế giới và 15% GDP toàn cầu, nhưng lá phiếu của họ chỉ có sức nặng tương đương 12% tổng số phiếu. Quan trọng hơn, trong số 180 thành viên IMF, ít nhất 2/3 thành viên là các nước đang phát triển và không có bất kỳ tiếng nói nào trong các quyết định của IMF.

Tin tốt lành là các nước công nghiệp hóa đã nhất trí cải cách từng bước hệ thống IMF. Cuộc cải cách mới nhất đã chia lại 6% phiếu bầu từ các nước châu Âu cho các nền kinh tế thị trường mới nổi. Sau cuộc cải cách này, Trung Quốc trở thành nước có số phiếu bầu lớn thứ ba, sau Mỹ và Nhật Bản. Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Nga đều nằm trong nhóm 10 thành viên đầu của IMF.

Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, các cải cách của IMF vẫn chưa đủ. Sau việc phân bổ lại hạn ngạch SDR mới đây, các nền kinh tế thị trường mới nổi rõ ràng vẫn chưa được đại diện đúng mức. Đặc biệt, trong số 24 giám đốc điều hành của IMF, các nước châu Âu vẫn chiếm 4 ghế: Anh, Italy, Đức và Pháp. Nhiều nước châu Á đang đòi các nước châu Âu này bỏ ít nhất 2 ghế. Tỷ lệ phiếu bầu của BRICS và các nước đang phát triển khác cũng phải được tăng hơn nữa để cho phép họ có ảnh hưởng lớn hơn trong quá trình hoạch định chính sách của tổ chức này.

Thứ hai, hiện có các quy định ngầm là WB chỉ định một người Mỹ làm Chủ tịch trong khi IMF chỉ định một người châu Âu làm Tổng giám đốc. Thói quen này là bất công và phân biệt đối xử. Như các tổ chức quốc tế, cả WB và IMF đều không nên cho phép chỉ định các công dân của riêng một số nước đặc biệt nào vào các vị trí cao nhất. Quá trình bầu chọn nên tập trung nhiều vào bản thân các ứng cử viên, hơn là quốc tịch của họ.

Và cuối cùng, Mỹ không sẵn sàng từ bỏ lá phiếu phủ quyết để biến IMF thành một tổ chức quốc tế thực sự. Quyền phủ quyết này cho thấy hai điều. Một là IMF trong vai trò là một tổ chức quốc tế sẽ tiếp tục bị chế ngự bởi Mỹ. Và hai là Mỹ có các kỹ năng chính sách tốt nhất trong số các nước thành viên.

Tuy nhiên cuộc khủng hoảng sub-prime mới đây cho thấy những thiếu sót lớn của hệ thống tài chính Mỹ và chính sách kinh tế của họ. Nhiều quốc gia đang phát triển đã chỉ trích Mỹ về những chính sách vô trách nhiệm, như chính sách nới lỏng tiền tệ (QE) và sự lây lan của nó ra toàn nền kinh tế thế giới. Vì Mỹ vẫn là thành viên quan trọng nhất của IMF trong một thời gian nữa, họ sẽ không có từ bỏ quyền ra quyết định cuối cùng.

Cùng với các cuộc cải cách khác về cấu trúc quản lý của IMF, các thành viên đang phát triển và công nghiệp hóa nên bắt đầu phối hợp với nhau về quy định và chính sách. Ví dụ, IMF nên giám sát sự phát triển kinh tế vĩ mô và các nguy cơ tài chính của tất cả các nền kinh tế chính không loại trừ nước nào, kể cả Mỹ. IMF cũng nên xem xét vấn đề mở rộng giỏ SDR cho các đồng tiền của một số nền kinh tế thị trường mới nổi.

Tổ chức này nên xem lại thời hạn điều lệ, chú ý sự cân bằng giữa việc ủng hộ sự ổn định kinh tế với việc tránh các vấn đề rủi ro liên quan đến đạo đức. IMF có tiềm năng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống kinh tế quốc tế, như giám sát kinh tế vĩ mô, điều tiết tài chính, quản lý tiền mặt toàn cầu và có thể là một số chức năng đối với nghiệp vụ ngân hàng trung ương toàn cầu. Tuy nhiên, tất cả những vai trò này sẽ phụ thuộc vào sự chuyển đổi thành công của bản thân IMF, đặc biệt là tính đại diện của nó cũng như cấu trúc quản lý và các cách tiếp cận chính sách. Thừa nhận tầm quan trọng ngày càng lớn của các nền kinh tế thị trường mới nổi so với các nước công nghiệp phát triển nên là một phần trong sự chuyển đổi này.

Còn tiếp...

  • Châu Giang dịch từ cuốn Rising China: Global Challenges and Opportunities