Ngân hàng- tài chính và Viễn thông tiếp tục là hai ngành có đóng góp thuế TNDN lớn nhất trong BXH V1000 năm 2013.

Số liệu thống kê từ BXH V1000 năm 2013 cho thấy, ngành Ngân hàng- tài chính và Viễn thông là hai ngành có đóng góp cho ngân sách quốc gia thông qua nguồn thuế TNDN lớn nhất trong năm 2012, với số thuế chiếm tới 23,4% và 16,7% tổng số thuế của BXH V1000. Vẫn là 2 cái tên dẫn đầu về ngành trong BXH năm trước, nhưng tỷ lệ tương ứng của ngành Ngân hàng- tài chính và Viễn thông lần lượt là 20,9% và 19,9%, cho thấy lợi nhuận của các doanh nghiệp Ngành viễn thông đang có phần nhỉnh hơn đôi chút.
{keywords}

Hình 1: Cơ cấu đóng góp của các nhóm ngành trong BXH V1000 năm 2013 (Đơn vị: %). Nguồn: Vietnam Report


Xét về số lượng doanh nghiệp, ngành xây dựng, bất động sản và vật liệu xây dựng có đông doanh nghiệp lọt vào BXH V1000 năm nay với hơn 16%, tuy nhiên số thuế TNDN của ngành này chỉ chiếm chưa tới 10% tổng số thuế BXH V1000, ngược lại hoàn toàn so với ngành Ngân hàng- tài chính và viễn thông. Điều này một lần nữa khẳng định những nỗ lực đáng ghi nhận của 2 ngành này trong việc tăng thu cho ngân sách quốc gia.

Đo lường khả năng sinh lời - dẫn đầu lại là ngành viễn thông

ROE trung bình ngành Viễn thông đạt gần 0,5 cho thấy các doanh nghiệp ngành Viễn thông đang hoạt động tốt hơn khi thu về gần 5 đồng lời trên mỗi 10 đồng vốn bỏ ra. Tiếp nối theo đó là ngành Thực phẩm- đồ uống (0,37) và Dệt may- da giầy (0,28). Trong khi đó, ngành Ngân hàng- tài chính có chỉ số ROE thấp hơn 0,1, cho thấy quy mô nguồn vốn của ngành Ngân hàng hiện vẫn đang rất lớn, trong khi lợi nhuận hoạt động lại không cao nên yêu cầu tái cơ cấu nguồn vốn, giảm thiểu nợ xấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành này là vô cùng cấp thiết.

{keywords}

Hình 2: 10 ngành có chỉ số ROE, ROA trung bình cao nhất trong BXH V1000 năm 2013. Nguồn: Vietnam Report


Hơn 50% vốn của 53% số doanh nghiệp V1000 đến từ nguồn vốn vay

Khi phân tích hệ số nợ/ Tổng tài sản, có thể nhận thấy, do đặc thù “kinh doanh trên đồng tiền” và thực trạng nợ xấu gia tăng trong năm 2012 khiến hệ số nợ/ Tổng tài sản của ngành Ngân hàng- tài chính ở mức rất cao, trung bình ngành trên 70%. Cùng nhóm có hệ số nợ/ Tổng tài sản cao còn có ngành Thép, Dệt may- da giầy, Xây dựng, bất động sản, vật liệu xây dựng, Khoáng sản, xăng dầu, Điện (từ 50% đến 65%). Các ngành có hệ số nợ/ Tổng tài sản dưới 50% bao gồm: Thủy sản, Nông lâm nghiệp, Viễn thông, Hóa chất, Thực phẩm- đồ uống, Dược và thiết bị y tế, Vận tải, bán lẻ, Cơ khí và Giấy- in ấn- xuất bản.

{keywords}

Hình 3: 10 ngành có hệ số Nợ/ Tổng tài sản trung bình lớn nhất trong BXH V1000 năm 2013. Nguồn: Vietnam Report

Nếu xét trong toàn BXH V1000 năm 2013 thì có tới 53% số doanh nghiệp thuộc bảng có hệ số nợ/ Tổng tài sản trên 50%, đồng nghĩa với việc phần lớn các doanh nghiệp hiện nay vẫn phải dựa vào nguồn vốn vay để duy trì hoạt động, do đó mức độ rủi ro tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam là khá cao.

… Và ngành nào có khả năng tự thanh toán nợ vay tốt hơn?

{keywords}

Hình 4: Các ngành có hệ số Nợ/ Tổng tài sản trung bình lớn hơn 1 theo BXH V1000 năm 2013. Nguồn: Vietnam Report

Trong số 1.000 đại diện nộp thuế TNDN lớn nhất, khoảng 1/6 số doanh nghiệp thuộc 3 ngành: cơ khí, giấy- in ấn- xuất bản và vận tải- bán lẻ có hệ số nợ/ nguồn vốn chủ sở hữu dưới 1. Về lý thuyết, tỷ lệ này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, đồng nghĩa với việc rủi ro tài chính thấp. Tuy nhiên, nếu xét thêm yếu tố đặc thù ngành nghề thì rõ ràng hệ số nợ/ nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp này thấp còn cho thấy một sự dè dặt trong việc tiếp cận nguồn vốn vay để kinh doanh, như vậy “tham vọng làm giàu” và khả năng mở rộng quy mô hoạt động cũng sẽ không cao.

Soi vào nhóm có hệ số nợ/ nguồn vốn chủ sở hữu trên 1 (nhóm có tài sản được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ), thì các ngành nghề được đánh giá cao hơn lại là: thực phẩm, thủy sản, hóa chất, điện, nông lâm nghiệp, khoáng sản- xăng dầu, dệt may- da giầy, viễn thông (dưới 2). Trong khi hệ số tương ứng của các nhóm xây dựng, bất động sản, vật liệu xây dựng, thép, ngân hàng- tài chính, dược và thiết bị y tế đều ở mức từ 2 đến 6. Những con số trên chỉ ra rằng phần nhiều các doanh nghiệp hiện nay đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên sẽ dễ gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt khi lãi suất ngân hàng tăng cao.

Bảng xếp hạng V1000 đã phần nào phác họa bức tranh toàn cảnh về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngành nghề tại Việt Nam. Ngành viễn thông và thực phẩm- đồ uống đang bộc lộ rõ sự vượt trội của mình về khả năng sinh lời. Trong khi nhóm ngành xây dựng, bất động sản, vật liệu xây dựng và thép vẫn khá ì ạch với nỗi ám ảnh được mang tên “nợ vay” trong bối cảnh kinh doanh ngày càng khó khăn hiện nay. Tuy nhiên, nghịch cảnh đó càng khẳng định không ai có thể phủ nhận những nỗ lực vượt khó và đóng góp rất có ý nghĩa vào nguồn thu ngân sách quốc gia của các đại diện có tên trong Bảng xếp hạng V1000 năm 2013. Chính nhờ sự chung tay góp sức của những đại diện này, hi vọng trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ “vững mạnh về kinh tế, ổn định về an ninh, chính trị” để bắt kịp với sự phát triển chung của toàn thế giới.

Sáng 29/11/2013, tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia, TP. Hà Nội, Ban tổ chức V1000 gồm: Công ty CP Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), Báo VietNamNet và Tạp chí Thuế - Tổng Cục Thuế sẽ chính thức tổ chức Lễ công bố Bảng xếp hạng V1000 năm 2013. Buổi Lễ được tổ chức nhằm mục đích khuyến khích, biểu đương và tôn vinh các doanh nghiệp có mức nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cao, góp phần rất lớn vào sự phát triển và giàu mạnh của đất nước.


Ngô Nga - Vietnam Report