Sau 15 năm, Viễn thông Việt Nam đã có một bước tiến dài khi chuyển từ vị thế tiếp nhận đầu tư đơn thuần sang chủ động đầu tư ra nước ngoài, xuất khẩu dịch vụ và khái niệm viễn thông mới của riêng mình.
Từ phải hợp tác đến phải tự
làm
Năm 1987, VNPT hợp tác với Úc để thiết lập dịch vụ điện thoại quốc tế. Tiếp theo
đó là liên kết kinh doanh với Nhật, Pháp, Hàn Quốc để thiết lập hệ thống điện
thoại nội hạt.
Đến năm 1995, tập đoàn Comvik
(Thụy Điển) với tiềm lực mạnh mẽ về vốn, công nghệ kỹ thuật và công nghệ quản lý
hợp tác kinh doanh (BCC) với VNPT thành lập ra Mobifone thì di động mới chính
thức trở thành một dịch vụ ở Việt Nam. Đến năm 1997, Vinaphone ra đời. Tuy không
trực tiếp hợp tác kinh doanh nhưng yếu tố nước ngoài vẫn đóng vai trò quan trọng
trong việc thiết kế và vận hành mạng lưới.

Từ đó, gần như đã thành mặc định
trong tư duy, phải hợp tác với nước ngoài để huy động nguồn vốn và công nghệ.
S-fone, HT Mobile (sau này đổi thành VietnamMobile), Beeline đều nằm trong xu
thế đấy. Duy chỉ có Viettel là khác.
Khi chuẩn bị cung cấp dịch vụ di
động, Viettel đã ròng rã mấy năm liền tìm kiếm đàm phán với các đối tác. Nhưng
thời điểm đó, viễn thông thế giới suy thoái, các nhà đầu tư đều khéo léo từ chối
hoặc đưa ra những điều khoản mặc cả theo kiểu được thì tốt, không được thì thôi.
Khi lòng tự trọng của người lính đã trỗi dậy, các lãnh đạo của doanh nghiệp quân
đội này quyết định: phải tự làm. Việt Nam có thể tự làm viễn thông, không có
nhiều người ở Việt Nam tin vào điều đó ở thời điểm đầu những năm 2000.
Chính trong quá trình tự làm đó,
các nhà lãnh đạo của Viettel đã phát hiện ra một vài điều rất quan trọng. Đó là,
Việt Nam chưa đủ trình độ để tạo ra công nghệ, nhưng người Việt Nam hoàn toàn có
thể làm chủ công nghệ. Đó là, thiếu tiền có thể đi vay, nhưng không thể đi vay
cách nghĩ, cách làm. Đó là, công nghệ dù cao cấp đến mấy sẽ ngày càng rẻ đi
trong khi người tiêu dùng sẽ ngày càng giàu lên. Và quan trọng nhất là, viễn
thông là nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người.
Mạng Viettel đã được thiết lập
theo cách chưa từng có ở Việt Nam: hoàn toàn do người Việt Nam thiết kế, xây
dựng, vận hành ngay từ đầu và phủ sóng khắp các tỉnh thành ngay tại thời điểm
khai trương. Cùng với đó là một khái niệm viễn thông dành cho mọi người, mọi nhà
xuất hiện, phủ nhận khái niệm viễn thông là cao cấp, chủ yếu là dành cho người
thành phố có thu nhập cao.
Đến nay, viễn thông Việt Nam đã
trải qua 10 năm phá thế độc quyền, bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, trong
đó có 5 năm liên tục bùng nổ nhảy vọt. Chính việc kiên trì thực hiện khái niệm
viễn thông bình dân cho mọi người đã đưa trạm phát sóng được quang hóa về đến
từng xã, đưa giá dịch vụ từ vào loại đắt nhất thế giới xuống ngang bằng, thậm
chí rẻ hơn các nước trong khu vực, đưa chiếc điện thoại vốn là đặc quyền của một
vài người thành nhu cầu được đáp ứng của tất cả mọi người….
Đến "xuất khẩu" khái niệm
Từ giữa năm 2006, khi mà thị
trường trong nước mới bước vào thời kỳ bùng nổ, chỗ đứng thương trường chưa phải
đã thật vững vàng thì những bước đi đầu tiên cho sự nghiệp đầu tư viễn thông ra
nước ngoài đã được thực hiện. Và đó lại là doanh nghiệp có cách làm viễn thông
không giống ai.
Khi đó, cũng rất ít người ở Việt
Nam tin rằng Viettel sẽ thành công. Tại Campuchia, trước Viettel, đã có tới 7
nhà cung cấp dịch vụ, trong đó có đến 6 là của các “ông lớn” viễn thông của khu
vực và thế giới đầu tư trực tiếp hàng chục năm. Nhưng viễn thông Campuchia vẫn
phát triển rất chậm, giá cước rất cao, dịch vụ chưa đầy đủ, chất lượng thấp và
cũng chỉ loanh quanh ở vùng thủ đô và các thành phố lớn.
Viettel đã đưa khái niệm viễn
thông 4Any (mọi lúc, mọi nơi, cho mọi người, với giá rẻ). cùng những kinh nghiệm
triển khai thành công trong thực tế tại Việt Nam sang áp dụng tại đây. Một mạng
lưới rộng lớn, vững chắc phủ khắp các tỉnh thành được dựng lên trước ngày khai
trương chính thức. Các gói dịch vụ được chia nhỏ phù hợp với từng đối tượng
người tiêu dùng với giá cước thấp hơn các nhà cung cấp khác tới gần 30%.
Từ đó, bức tranh viễn thông
Campuchia đã thay đổi với tốc độ phi mã khi chỉ sau một năm mà đã tăng mật độ di
động từ 15% lên 40%, điện thoại cố định từ 1% lên 6%, Internet băng rộng từ 0,5%
lên 2%, mật độ hạ tầng từ 120 trạm phát sóng BTS và 150 km cáp quang/1 triệu dân
lên 250 BTS và 1.000km cáp quang/1 triệu dân. Chỉ số Sẵn sàng kết nối của
Campuchia năm 2009 xếp 128/134 đã nhảy vọt lên 117/133 vào năm 2010.
Không chỉ người dân Campuchia mà
cộng đồng quốc tế cũng ghi nhận đóng góp của Viettel đối với thị trường
Campuchia khi tháng 6 vừa qua, Frost&Sullivan vinh danh Metfone (thương hiệu của
Viettel tại Campuchia) là “Nhà cung cấp dịch vụ triển vọng nhất của năm” ở khu
vực châu Á-Thái Bình Dương.
Cùng với sự phát triển của
Viettel, viễn thông Việt Nam đã đi qua một bước chuyển rất dài, từ là đối tượng
tiếp nhận sang người đi đầu tư. Không chỉ đơn thuần là đầu tư nước ngoài, xuất
khẩu dịch vụ, Việt Nam đã xuất khẩu một khái niệm viễn thông mới của riêng mình.
Đến năm 2015, khái niệm đó có thể phủ tới 500 triệu dân ở các nước đang phát
triển.
- Thúy Ngà