(VEF.VN) - DN nước ngoài đến VN để tận dụng nhân công giá rẻ, ưu đãi... nhưng ta phải tận dụng họ để phát triển ngành công nghiệp cho mình. Đừng để khi hết "mồi ngon" thì "đàn sếu bay qua" đến những nơi có điều kiện ưu đãi hơn, thì ta chẳng còn gì.

LTS: Ở phần 1 phần 2 của buổi trực tuyến "Giải pháp thúc đẩy nền công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam", cùng hai vị khách mới là ông Phan Đăng Tuất, Viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công Thương, và ông Trần Quang Hùng, nguyên Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam đã phác thảo bức tranh về sự yếu kém và tầm quan trọng của phát triển CN hỗ trợ tại Việt Nam. Đồng thời, các khách mời cũng đã thảo luận về nguyên nhân khách quan và chủ quan cho sự tụt hậu của VN so với các nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia, Phillippines...

Mời độc giả theo dõi phần tiếp theo của trực tuyến.

Nhà báo Lan Hương: Tôi được biết trong tư duy của một số quan chức nước ta vẫn cho rằng doanh nghiệp FDI vào Việt Nam chỉ để tận dụng nhân công giá rẻ, ưu đãi về thuế, đất đai thôi chứ họ cũng không muốn mang phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước. Nhưng qua câu chuyện mà ông Hùng vừa kể, ta lại thấy rõ ràng là họ lại muốn sử dụng công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam để hỗ trợ cho họ. Vậy ông có thể giải thích rõ hơn tại sao lại có hai luồng ý kiến trái chiều như vậy?

Ông Phan Đăng Tuất: Nguyên tắc tối thượng của doanh nghiệp là lợi nhuận. Vì thế việc họ đến một nơi có những ưu đãi nọ kia là điều đương nhiên. Thế mới sinh ra dòng dịch chuyển của vốn và hàng hóa, của dòng đầu tư chứ.

Vấn đề là mình đừng nhìn nó dưới góc độ tiêu cực. Họ đến cầu lợi thì ta cũng có thể lợi dụng họ để tranh thủ cầu lợi cho mình chứ. Đây là một vấn đề liên quan đến tư duy.

Theo tôi mình đừng suy luận và quy kết cho ai cả. Hãy nhìn vào cái mà họ cần. Ví dụ, Jetro của Nhật Bản có tổ chức hội chợ ngược tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô. Họ phơi chi tiết linh kiện mà họ cần ra để xem có doanh nghiệp nào có thể làm được để họ mua. Họ rất cần vì nó ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ. Nếu ta có thể sản xuất được trong nước, họ sẽ giảm thiểu được chi phí rất nhiều.

Nếu mình phát triển được thì đây chính là cơ hội vàng của mình cho hội nhập toàn cầu. Mình có thể để tận dụng sản xuât sinh lời. Và sau khi mình sản xuất được cho hãng này thì đấy chính là chứng chỉ để mình tiếp tục làm chi tiết và linh kiện cho hãng khác nữa. Đấy chính là cái nôi của phát triển công nghiệp. Nếu mình không nắm giữ được thì đàn sếu sẽ lại bay đi. Đến đây khai thác, hết mồi ăn, rồi lại bay đi.

Cho nên đừng tiếp cận theo hướng tiêu cực, hãy tự vấn mình trước khi nghi ngờ người ta. Trong tư duy chính sách cũng cần phải như vậy.


Ông Trần Quang Hùng (trái) và ông Phan Đăng Tuất tại buổi trực tuyến. Ảnh: PHạm Hải

Ông Trần Quang Hùng: Tôi đồng ý với ý kiến của ông Tuất nhưng xin bổ sung thêm. Đúng là thời gian vừa rồi, khi chúng ta gặp những khó khăn về công nghiệp hỗ trợ, đầu tư nước ngoài thì nhiều người "đổ vạ" cho nhà đầu tư nước ngoài.

Thế nhưng đúng như ông Tuất nói, người ta đến đây để tìm kiếm lợi nhuận. Và chính bản thân tôi đã nói rằng các nhà đầu tư nước ngoài sang đây để tìm kiếm lợi nhuận chứ không phải để giúp ta xây dựng công nghiệp điện tử. Nhưng chúng ta phải biết tận dụng cơ hội.

Năm 2004 tại diễn đàn doanh nghiệp điện tử châu Á tổ chức tại Hồng Kông, tôi đã nói chuyện với phó chủ tịch kiêm tổng thư ký của hiệp hội điện tử Trung Quốc và hỏi về vấn đề này.

Ông ta đã trả lời như sau: "Các doanh nghiệp nước ngoài vào nước tôi để tìm kiếm lợi nhuận từ thị trường nhân công nhưng chúng tôi đã tận dụng lại họ. Chúng tôi chấp nhận kèm theo các yêu cầu."

Ví dụ, một đại gia lớn như Sony muốn đầu tư vào thị trường Trung Quốc thì phải kéo theo 5 nhà sản xuất linh kiện vào cùng. 5 nhà sản xuất này phải đầu tư thật sự hoặc liên doanh với doanh nghiệp Trung Quốc. 5 nhà sản xuất này lại lôi kéo 25 nhà sản xuất nhỏ hơn khác. Cứ thế nên giờ Trung Quốc linh kiện điện tử nào cũng có thể sản xuất được.

Nhưng chúng ta lại không làm được như vậy. Xin dẫn chứng cam kết nội địa hóa ở nước ta, như Toyota, Sony cam kết rất lớn, tỉ lệ nội địa hoá toàn 40%, 50%, nhưng giờ toàn là con số 0, có hãng thì được 5%, chưa hãng nào đạt nổi ngưỡng 15%. Đó là do chúng ta không có chế tài.

Đấy là một bài học thành công của Trung Quốc. Một khi nắm được công nghệ, việc tạo ra sản phẩm của riêng mình là rất dễ dàng.

Chúng ta phải khẳng định dứt khoát là họ sang đây để tìm kiếm lợi nhuận chứ không phải để giúp đỡ chúng ta. Thế nhưng họ kiếm lợi nhuận thì ta cũng phải kiếm công nghệ, kiến thức, quan hệ và cách làm ăn của họ.

Nhà báo Lan Hương: Độc giả Nguyễn Đăng Vinh, 32 tuổi ở Hải Phòng có hỏi là, khi đọc loạt bài về công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, tôi rất băn khoăn vì sản xuất linh kiện điện tử, ô tô thì có thể cho là khá phức tạp, quy mô thị trường còn nhỏ nên khó thực hiện, nhưng việc sản xuất phụ liệu cho ngành dệt may như chỉ may, cúc áo đâu có quá phức tạp, trong khi các doanh nghiệp làm hàng gia công lại cần số lượng lớn, nhưng vẫn có rất ít doanh nghiệp chịu làm, toàn phải nhập từ nước ngoài. Thưa ông Tuất, theo ông thì nguyên nhân là do đâu?

Ông Phan Đăng Tuất: Đây là một câu hỏi hay, và đã chạm tới bản chất của công nghiệp hỗ trợ. Như tôi nói vừa nãy, chuỗi sản xuất có quy ước và hệ thống mà phải kết nạp. Bản thân ngành may cũng là ngành gia công. Và trong hợp đồng thì đã có chi tiết rất rõ ràng việc sử dụng nguyên liệu gì, chỉ gì,... gần như là đã được quyết định hêt.

Trong công nghiệp hỗ trợ có tất cả 3 cấp độ:

Thứ nhất là nhà công nghiệp hỗ trợ ruột của chính hãng đây. Chẳng hạn Mercedes có khoảng 200 doanh nghiệp chứa bí quyết công nghệ, không bao giờ xuất khẩu đi đâu.

Thứ hai là công nghiệp hỗ trợ làm theo hợp đồng. Đó là các doanh nghiệp làm theo hợp đồng rất chặt chẽ.

Và cuối cùng mới là nhà hỗ trợ thị trường, bao gồm những chi tiết, linh kiện dễ mua, dễ sản xuất, dễ chế tạo.

Như tôi đã nói, các mối liên hệ ở đây là một chuỗi khăng khí. Cái hình ảnh bà bán phở lấy hành, lấy thịt, lấy ớt tôi vừa nói ở trên đấy. Nếu muốn thay vào vị trí những người giao hàng cho bà bán phở là điều rất khó. Bởi giữa họ đã có mối quan hệ khăng khít, tín nhiệm lẫn nhau, đôi khi cao hơn cả quan hệ kinh tế.

Tôi muốn nói, công nghiệp hỗ trợ cần sự vào cuộc của Đảng, Nhà nước, Chính phủ. Phải làm cho cả thế giới yêu mến mình, để họ sẵn sáng kết nạp mình, chứ không chỉ là các doanh nghiệp nỗ lực thôi đâu.

Ví dụ, Ắc quy Tia Sáng Hải phòng tốt hơn Ắc quy Thái Lan, rẻ hơn, dễ vận chuyển hơn nhưng Toyota từ chối, bởi họ đã có nguồn cung của mình rồi. Cái cúc áo dễ làm thật đấy nhưng không có mối quan hệ thì cũng không bán được. Ngoài mặt kỹ thuật, còn yêu cầu về mặt tình cảm. Và chính cái tình cảm đấy mới đòi hỏi sự hỗ trợ của tất cả các ban ngành.

Cái công nghệ hỗ trợ có đặc điểm như thế. Đó là một mối quan hệ khăng khít chặt chẽ và có cả những ràng buộc phi kinh tế. Đấy là điểm tế nhị của công nghiệp hỗ trợ.

Đánh giá của các tổ chức tài chính, tổ chức công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) gần đây về sức cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam là nguy hiểm. Bởi vì các chỉ số đánh giá sức cạnh tranh sau 10 năm không lên lại còn xuống.

Cảm giác mang cả hàm ý về thiện cảm, xuất xứ hàng hóa. Chỉ số sản phẩm xuất khẩu công nghệ cao của ta sau 10 năm còn giảm. Tỉ trọng trong xuất khẩu thô, và 8 nhóm hàng họ phân tích thì cho thấy Việt Nam tăng trưởng ở vùng trũng tăng trưởng của thế giới.

Ông Phan Đăng Tuất: "Chẳng hạn châu Phi kết thúc chiến tranh, người ta nhận ra việc đặt xưởng may ở đấy sẽ rẻ hơn, nhân công khỏe hơn, vận chuyển dễ dàng hơn, thì họ sẽ lập tức rời bỏ Việt Nam và tập trung sang đấy ngay." Ảnh: Phạm Hải
Nghĩa là cơ hội ở đấy rất chật chội, và chỉ cần một cuộc ra đi của đàn sếu thì có thể dịch chuyển đi bất kỳ lúc nào. Chẳng hạn châu Phi kết thúc chiến tranh, người ta nhận ra việc đặt xưởng may ở đấy sẽ rẻ hơn, nhân công khỏe hơn, vận chuyển dễ dàng hơn, thì họ sẽ lập tức rời bỏ Việt Nam và tập trung sang đấy ngay.

Vì thế, sự khôn khéo để được kết nạp vào chuỗi sản xuất này là rất quan trọng, vì công nghiệp hỗ trợ không phải tự thân, nó không làm ra để tự bán được.

Ông Trần Quang Hùng: Tôi xin đồng tình với ông Tuất là tình cảm rất quan trọng. Ngoài ra, về mặt doanh nghiệp, thì tôi xin bổ sung thêm. Đúng là để được kết nạp vào chuỗi giá trị là rất khó, ta phải có truyền thống, sản phẩm bảo đảm, và nhất là phải có uy tín. Các doanh nghiệp Việt Nam chưa làm được việc này, ngoài chuyện tình cảm, còn vì chúng ta còn chưa đủ chữ tín về mặt kỹ thuật.

Cách đây 6 năm, có doanh nghiệp Việt ở miền trung làm điện trở nhiệt. Họ đề nghị can thiệp linh kiện này và thay thế vào chống sét của EVN. Thế nhưng các nhà sản xuất từ chối, bởi các linh kiện họ đang sử dụng đã được dùng từ lâu rồi, và nó hoạt động tốt. Nếu thay các linh kiện khác vào, họ lo ngại sẽ xảy ra sự cố.

Một trường hợp nữa là việc gần đây Canon đi tìm nhà cung cấp, làm bánh răng nhựa. Có một nhà cung cấp của Việt Nam đảm nhận vai trò này. Lô hàng đầu rất ngon lành, tốt. Nhưng lô hàng sau có sự cố về mặt hình thức, nhựa không được trắng bằng cái nhựa đầu. Đến lô hàng thứ 3 thì có một số bánh răng bị lỗi.

Đây là lỗi rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị mắc, cứ lần đầu tốt thì lần sau lại lỗi. Nếu tiếp tục như vậy thì Việt Nam rất khó được kết nạp vào chuỗi giá trị này.

Vì vậy, muốn kết nạp vào chuỗi giá trị, phải đảm bảo được rất nhiều yếu tố. Đấy là cái khó nhất của chúng ta.

Nhà báo Lan Hương: Ông vừa vẽ ra một bức tranh rộng hơn về công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam. Và ông cũng vừa mói nói cần có sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân. Việt Nam cũng đang có kỳ vọng trở thành một trung tâm sản xuất của châu Á. Vậy theo ông Tuất thì liệu viễn cảnh này ở Việt Nam có xa xôi không?

Ông Phan Đăng Tuất: Tôi nghĩ mọi việc đều có thể nếu đi kèm với một tiền tố "nếu". "Mọi việc đều có thể nếu..." Và cái "nếu" của chúng ta nó là một cái sứ mệnh nặng nề hơn so với các nước khác.

Ta cần một sự vào cuộc cực kỳ mạnh mẽ, như Thủ tướng vẫn hay nói là phải hết sức quyết liệt. Tôi cho đây là cuộc tấn công quyết định nhất cho mục tiêu một nước công nghiệp.

Có thể thấy, chúng ta sẽ đạt được "nếu" chúng ta bắt tay ngay lập tức vào một chương trình, mà như tôi vừa nói ví von ban đầu "cả những điệu hát ru hay nhất, cũng như bình sữa tốt nhất" cho khu công nghiệp hỗ trợ này.  Thậm chí phải là sữa tốt hơn các loại sữa mà các quốc gia khác đã dùng trong quá khứ, những loại biệt dược và thuốc bổ tốt hơn nữa.

Trong đó thì có mấy điểm khi triển khai Quyết định 12 của chính phủ thì Bộ Công Thương đã chỉ đạo ngay việc đóng, soạn thảo, xây dựng một kế hoạch hành động 8 nội dung để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Ví dụ như thành lập hội đồng thẩm định các dự án công nghiệp hỗ trợ. Nghị định 143 về danh mục chi tiết linh kiện trong công nghiệp hỗ trợ cho 5 nhóm ngành, mới có 49 chi tiết linh kiện, so với Hàn Quốc ra cái danh mục hơn 1500 linh kiện thì vẫn còn nhỏ bé nhưng cũng vô cùng quan trọng.

Chúng tôi cũng quan tâm đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu, đầu tiên mở một các trang web về danh mục các chi tiết và linh kiện. Nhưng điều đáng buồn là bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng không muốn tham gia. Tinh thần doanh nghiệp chưa cởi mở, chưa tin nhau.

Một điều nữa tôi muốn nói là vai trò cực kỳ quan trọng của các cơ quan quản lý Nhà nước. Nếu có quyền kiến nghị, tôi muốn thành lập cả Bộ công nghiệp hỗ trợ. Nhưng mới đề xuất cục quản lý công nghiệp hỗ trợ thì các cơ quan ban ngành phản đối ngay. Họ chưa nhận thức được tầm quan trọng của ngành công nghiệp này.

Giờ tôi xin "ngoa" lên một chút là phải thành lập Bộ công nghiệp hỗ trợ. Phải có một cơ quan tầm cỡ như vậy, quyền lực như vậy thì mới có thể thúc đẩy con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tôi vẫn tự hào là viện tôi là nơi đầu tiên tạo ra đầu mối về công nghiệp hỗ trợ. Chúng tôi đã thành lập một trung tâm phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đầu tiên ở Việt Nam, và hình như là đầu mối duy nhất. Trong khi đó Thái Lan, năm 1992 họ đã thành lập ngay 1 cục, Đài Loan cũng có 1 cục trong cục kinh tế, ở Nhật Bản có 3 tổ chức phối hợp gồm các hiệp hội lớn, mạnh. Họ có thể đề nghị thẳng lên chính phủ.

Tôi nhớ đạo luật của chính phủ Nhật ban hành sau mấy ngày, nó chỉ có 6 trang thôi nhưng ban hành rất nhanh. Không phải như ở ta, muốn đăng ký để được làm luật cũng mất 2 năm, chứ chưa biết thời gian hoàn thành trong bao lâu.

Câu hỏi của bạn về viễn cảnh của Việt Nam, thì "viễn" bản thân nó đã là xa rồi. Tôi muốn gần hơn nữa, không dám "cận" nhưng là "trung cận viễn".

Ông Trần Quang Hùng: Về phía doanh nghiệp Việt Nam, muốn trở thành trung tâm sản xuất thì các doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi nhiều. Cần phải triệt tận gốc rễ kiểu làm ăn chụp giật, cơ hội, lô đầu tốt, lô sau xấu như bây giờ. Phải có chữ tín  về mặt kỹ thuật, chất lượng, đó là cái đầu tiên mà doanh nghiệp Việt Nam phải có.

Ông Trần Quang Hùng: "Để được kết nạp vào chuỗi giá trị là rất khó, ta phải có truyền thống, sản phẩm bảo đảm, và nhất là phải có uy tín." Ảnh: Phạm Hải
Thứ hai là thay vì đầu tư dàn trải từ A-Z, cái gì cũng muốn làm, thì chỉ nên đầu tư chiều sâu, tập trung vào một loại mặt hàng thôi và chất lượng thật tốt, có thể xuất khẩu được, giá cả cạnh tranh và phải chuyên môn hóa. Ở Nhật, 1 công ty chỉ sản xuất dây nối camera mà doanh thu 1 năm là 12 triệu USD.

Phải giữ được cái thời hạn giao hàng, không được trễ. Việt Nam quen giờ cao su, nhưng khi mà đã muốn vào chuỗi giá trị thì không thể làm như vậy được. Bây giờ người ta mua hàng thì ko chỉ tập trung vào hàng của mình đâu mà còn quan tâm nhiều yếu tố khác như điều kiện làm việc, môi trường, chăm sóc lao động, trách nhiệm xã hội... Nếu chúng ta làm được những điều này thì mới trở thành trung tâm sản xuất được được chứ hô hào suông thi vô ích thôi.

Nhà báo Lan Hương: Xin cảm ơn hai vị khách mời! Trong suốt buổi trực tuyến, đã có rất nhiều ý kiến, rất nhiều khuyến nghị được đưa ra. Chúng ta có thể thấy quãng đường trước mắt vẫn còn rất là khó khăn. Để có thể phát triển công nghiệp hỗ trợ và bắt kịp các nước xung quanh thì vẫn còn là một chặng đường dài, nhưng điều cần thiết là ý chí quyết tâm của Chính phủ, của Đảng, Nhà nước, toàn thể cộng đồng doanh nghiệp, toàn xã hội. Cần phải coi đây là một ngành chính, chứ không phải là ngành phụ như tên gọi công nghiệp phụ trợ trước đây.

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam