Ung dung CNTT trong co quan Nha nuoc.jpg
Danh mục sản phẩm, dịch vụ CNTT sản xuất trong nước ưu tiên đầu tư mua sắm trong các cơ quan Nhà nước đã được mở rộng từ con số 37 lên số 63, trong đó có máy tính, phần mềm chống virus,… Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

>> Cơ quan Nhà nước vẫn “chê” sản phẩm CNTT nội / 37 loại sản phẩm CNTT Việt ưu tiên vào khu vực công / Nhà nước đã chi hơn 1.200 tỷ đồng mua sản phẩm CNTT

Bộ TT&TT đang xây dựng dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 42/2009/TT-BTTTT ngày 30/12/2009 quy định chi tiết về ưu tiên đầu tư, mua sắm các sản phẩm CNTT sản xuất trong nước bằng nguồn vốn Nhà nước. Trong Dự thảo nêu rõ các tiêu chí xác định sản phẩm, dịch vụ CNTT nội địa được ưu tiên đầu tư, mua sắm, thuê sử dụng.

Đáng chú ý, đối với sản phẩm phần cứng, điện tử thì doanh thu từ hoạt động sản xuất, lắp ráp, kinh doanh sản phẩm phải đạt tối thiểu 10 tỷ đồng/năm trong 2 năm liên tiếp gần nhất; hoặc sản phẩm được ưu tiên có tối thiểu 5 cơ quan Nhà nước hoặc 10 tổ chức, doanh nghiệp hoặc 500 cá nhân đã và đang sử dụng. Sản phẩm phải có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỉ lệ từ 20% trở lên trong tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm; hoặc tổ chức, doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm này có tối thiểu 50 lao động chuyên môn về phần cứng, điện tử là người Việt Nam đang làm việc ổn định (hợp đồng lao động 2 năm trở lên). Tổ chức, doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm phải đạt ít nhất một trong các chuẩn quản lý chất lượng, môi trường sau cho hoạt động sản xuất phần cứng, điện tử: TCVN ISO 9001:2008; TCVN ISO 14001:2004; TCVN ISO 17025:2005 hoặc tương đương.

Đối với sản phẩm phần mềm, doanh thu từ sản phẩm phải đạt 500 triệu đồng/năm trong 2 năm liên tiếp gần nhất; hoặc sản phẩm được ưu tiên có tối thiểu 2 cơ quan Nhà nước, hoặc 5 tổ chức, doanh nghiệp, hoặc 500 cá nhân đã và đang sử dụng. Sản phẩm phải có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỉ lệ từ 30% trở lên trong tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm, hoặc tổ chức, doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm này có tối thiểu 20 lao động chuyên môn về phần mềm là người Việt Nam đang làm việc ổn định (hợp đồng lao động 2 năm trở lên). Sản phẩm phải được sản xuất bởi doanh nghiệp đạt một trong các chứng chỉ cho hoạt động sản xuất phần mềm như CMMI mức 3 trở lên, hoặc ISO 9001, ISO 27001.

Đối với sản phẩm nội dung thông tin số, sản phẩm phải tuân thủ pháp luật về cung cấp, sử dụng nội dung, thông tin trên mạng. Tổng doanh thu của doanh nghiệp từ các sản phẩm nội dung thông tin số phải đạt 2 tỷ đồng/năm trong 2 năm liên tiếp gần nhất; hoặc sản phẩm được ưu tiên có tối thiểu 20 tổ chức, doanh nghiệp hoặc tối thiểu 500 cá nhân đã và đang sử dụng. Sản phẩm có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỉ lệ từ 30% trở lên trong tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm; hoặc tổ chức, doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm này có tối thiểu 20 lao động chuyên môn về phần mềm hoặc nội dung số người Việt Nam đang làm việc ổn định (hợp đồng dài hạn).

Đối với dịch vụ CNTT, doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ CNTT đạt tối thiểu 2 tỷ đồng/1 năm; hoặc dịch vụ được ưu tiên có tối thiểu 5 tổ chức, doanh nghiệp đã và đang sử dụng. Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn ISO, ưu tiên các tổ chức, doanh nghiệp đạt chuẩn ISO 20000 hoặc ISO 27000.

Cũng theo Dự thảo Thông tư, các cơ quan Nhà nước không được đưa ra các yêu cầu, điều kiện, tính năng mang tính chỉ định cho sản phẩm, dịch vụ CNTT nước ngoài, hoặc có thể dẫn tới việc loại bỏ các sản phẩm, dịch vụ CNTT trong nước trong Thiết kế sơ bộ, Thiết kế thi công, Kế hoạch đấu thầu, Kế hoạch đầu tư, Hồ sơ mời thầu, Yêu cầu chào hàng, Yêu cầu báo giá, hay các yêu cầu mua sắm khác (nếu có yêu cầu đặc thù phải mua sản phẩm, dịch vụ của nước ngoài thì phải lập hồ sơ giải trình).  

So với Thông tư 42, Danh mục mới về các loại sản phẩm, dịch vụ CNTT sản xuất trong nước được ưu tiên đầu tư, mua sắm, thuê sử dụng đã được mở rộng hơn, gồm có 63 sản phẩm, dịch vụ như máy tính để bàn; máy tính xách tay; máy tính bảng; màn hình máy tính; tổng đài nội bộ dưới 1.000 số; phần mềm an toàn thông tin, bảo mật, chống virus; phần mềm hội nghị truyền hình; dịch vụ kho ứng dụng, nội dung; dịch vụ điện toán đám mây…