“Mỗi năm VN tổn thất 1-1.5 % GDP. Đây là những tổn thất thực tế mà người dân
phải thực sự gánh chịu từ biến đổi khí hậu”, ông Axel Van Trotsenburg, Phó chủ
tịch World Bank cho biết.
VN dễ tổn thương do biến đổi khí hậu
Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất do ảnh hưởng của biến
đối khí hậu. Biến đổi khí hậu có thể sẽ làm trầm trọng thêm những nguy cơ sẵn có
đối với tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, an ninh lương thực, cơ sở hạ tầng
và sức khỏe và đặt ra những mối đe dọa lớn cho phát triển kinh tế và con người,
cũng như môi trường. Người nghèo và cộng đồng nghèo ít có khả năng thích ứng sẽ
là nhóm bị tác động nặng nề hơn.
Xu hướng phát thải khí nhà kính toàn cầu cho thấy đến năm 2100, trái đất có thể
sẽ nóng thêm 4 độ C và khiến Việt Nam sẽ phải gặp phải sự thay đổi nhiệt độ lớn,
đặc biệt là ở khu vực phía Bắc. Các thảm họa thiên nhiên và mực nước biển dâng
đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề đối với con người và tài sản, gây ra
những ảnh hưởng bất lợi tới tăng trưởng và giảm nghèo, và tới nhiều lĩnh vực
khác nhau của nền kinh tế.
Trong 2 thập kỷ qua, ước tính mỗi năm Việt Nam đã thiệt hại từ 1% đến 1,5% GDP
do các thảm họa thiên nhiên. Chẳng hạn như cơn bão Xangsane năm 2006 đã gây
thiệt hại tới 1,2 tỉ USD ở 15 tỉnh ở khu vực miền Trung.
Mặc dù Việt Nam chưa phải là quốc gia phát thải lượng lớn khí nhà kính, nhưng
lượng khí này của Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực năng
lượng. Từ năm 2000 đến năm 2010, lượng khí nhà kính trên đầu người của Việt Nam
đã tăng 180% và tổng lượng khí thải nhà kính tăng 150%.
Ông Axel Van Trotsenburg cho biết, ở Việt Nam, biến đổi khí hậu tác động rõ rệt
nhất là ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi hiện tượng ngập lụt ngày càng nghiêm
trọng, xói mòn ở bở biển, tăng xâm mặn... tác động lớn đến đời sống người nông
dân.
![]() |
| Ông Axel Van Trotsenburg |
Chính phủ Việt Nam đang thể hiện cam kết mạnh mẽ ứng phó với biến đổi khí hậu,
giảm nhẹ rủi ro thiên tai và tăng trưởng xanh, áp dụng phương thức liên lĩnh vực
tập trung vào thích ứng và tăng cường nỗ lực để giảm nhẹ tác động của biến đổi
khí hậu.
Để hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực này, Ngân hàng Thế giới đang triển khai 19 dự
án tập trung vào các chương trình giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.
Chuỗi tổng thể các giải pháp
Cũng theo ông Axel Van Trotsenburg, sẽ không có một biện pháp duy nhất nào có
thể ứng phó được với biến đổi khí hậu mà cần một chuỗi tổng thể các biện pháp
kết hợp với nhau.
Biện pháp đầu tiên chính là tuyên truyền nâng cao nhận thức. Trên cơ sở xác định
những nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu ở nước mình, các nước cần đưa ra
những chiến lược thực sự hiệu quả để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
![]() |
|
|
Ở những nước đặc biệt dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, cần
tăng cường công tác quản lý rủi ro thiên tai, đưa ra những biện pháp đảm bảo khả
năng chống chịu của các đô thị và nông thôn trong quá trình phát triển. Đây là
những biện pháp hết sức quan trọng mà chúng ta cần thực hiện.
Để đạt được hiệu quả trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, các nước cần
đưa ra được những chính sách để hiện thực hóa các thay đổi, đưa ra được những
biện pháp, những hình thức khuyến khích, đồng thời cần có những quy định từ phía
chính phủ.
Và Cuối cùng tất cả mọi người đều phải tham gia vào công tác ứng phó với biến
đổi khí hậu nên việc điều phối, kết hợp là hết sức quan trọng. Cần 1 khung thể
chế trong đó mọi người lắng nghe nhau, học hỏi lẫn nhau, cùng nhau thực hiện các
phân tích. Thể chế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin, theo
dõi tình hình, giúp chúng ta nêu bật được sự cần thiết phải hành động. Chính vì
vậy, cần thiết lập thể chế một cách khẩn trương, cấp bách, cả ở cấp quốc gia lẫn
quốc tế.
Đầu tư 3.000 tỷ đồng dự án ứng phó biến đổi khí hậu
Tháng 9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép sử dụng 3.000 tỷ đồng vốn vay ODA
thông qua Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) để đầu tư
các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu trong năm 2015.
Cụ thể, phạm vi thực hiện bao gồm: 16 dự án chuyển tiếp đã được bố trí vốn
Chương trình SP-RCC từ các năm trước; tập trung cho các dự án trồng rừng ngập
mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn (trong đó bao gồm cả các hạng mục trồng
rừng của các dự án thuộc danh mục Chương trình SP-RCC); lưu ý ưu tiên cho các dự
án trồng rừng ngập mặn ven biển; các dự án đê biển xung yếu ứng phó với biến đổi
khí hậu, có tác động trực tiếp đến khu vực dân cư.
D.Minh (tổng hợp)

