
10 CEO tệ nhất trong lịch sử công nghệ (I)
4. Henry T. Nicholas III – Broadcom
Nicholas là đồng sáng lập ra Broadcom, công ty chuyên chế tạo vi mạch cho các thiết bị băng thông rộng. Có thể, trong các thiết bị mà bạn đang sử dụng, cũng có vài bộ phận được hãng này chế tạo. Broadcom là một công ty khá thành công, mặc dù họ là một trong số nhiều công ty đã vi phạm chứng chỉ GPL, nhưng dưới sự lãnh đạo của Nicholas thì còn có nhiều điều bất thường hơn nữa.
Đây có thể được coi là một sự kiện kỷ lục. Nicholas rời Broadcom vào năm 2003 nhưng trong tháng 7 năm 2006, công ty đã tuyên bố phải cắt giảm 750 triệu USD doanh thu, con số này được nhân lên gấp đôi sau đó vài tháng, và cho đến năm 2007 thì con số này đã lên đến 2,24 tỷ USD từ kết quả tài chính trong giai đoạn 1998 đến 2003, và chính quyền quyết định phải để mắt đến sự kiện này.
Những tin đồn nghiêm trọng về người đàn ông thành đạt này đã nổi lên, đe dọa đối với hình ảnh của ngành IT buồn chán. Nicholas bị tố cáo đứng đầu và điều hành một đường dây ma túy, thuê gái mại dâm và vận hành một dây chuyền sản xuất ma túy chuyên nghiệp. Có người đã kể lại ông ta cùng các đồng sự khác trên một chuyến bay khác đã sử dụng quá nhiều marijuana, khiến cho phi công đã phải sử dụng mặt nạ oxy. Còn các thợ xây đã tố cáo ông quỵt tiền công của họ sau khi họ xây một căn hầm bí mật dưới đất trong căn nhà của ông với những căn buồng bí mật và một quầy bar lớn để phục vụ mại dâm.
Điều gì khiến một người đàn ông thành đạt, được coi là hình mẫu, người mà vẫn cổ vũ các nhân viên của mình trong bộ đồng phục và ca-vat tham gia những chiến dịch mạnh mẽ chống lại tội ác và ủng hộ các nạn nhân trở thành như vậy? Đó có thể là sự phủ nhận, hoặc đơn giản chỉ là những suy nghĩ lệch lạc của một người đã quá thừa thãi những thành công.
Vào tháng Tư vừa qua, Nicholas đã phải nhập trại cai nghiện Betty Ford, trước khi chờ đợi những cáo buộc liên quan đến tội danh lạm dụng ma túy, âm mưu và lừa đảo chứng khoán.
5. John Scully - Apple
Khi Steve Jobs thuyết phục Scully ngồi vào chiếc ghế Giám đốc điều hành của Apple, ông chủ của “trái táo cắn dở” đã nói một câu nổi tiếng: “Anh có muốn cả đời đi bán nước ngọt hay anh muốn nắm lấy cơ hội để thay đổi thế giới?” thì chắc hẳn Scully phải là một người xứng đáng lắm với vị trí CEO của Apple.
Lúc đó Scully đã là Chủ tịch trẻ nhất trong lịch sử của PepsiCo (một phần cũng nhờ việc ông cưới con gái của ngài chủ tịch), và cũng đã phần nào bộc lộ khả năng làm marketing cũng như đầu óc tổ chức. Nhưng Scully cũng mau chóng cho mọi người thấy rằng ông không thích hợp với thế giới kinh doanh công nghệ.
Đầu tiên mọi việc có vẻ rất tốt đẹp. Ông triển khai nhiều biện pháp kiểm soát cổ phiếu và những cải cách trong mua sắm, để mang về hàng triệu USD cho bản cân đối kế toán. Nhưng sau đó Scully lại thể hiện sự lộng quyền và định đá bật Jobs khỏi chính công ty mà ở đó Jobs mới là người chủ đích thực.
Sau khi loại bỏ nhà lãnh đạo hiện thời của Apple, Scully lại không thể kiểm soát được công ty. Dưới sự lãnh đạo của ông, ban đầu Apple đã có những tăng trưởng và có cơ hội để chiếm ưu thế trong ngành công nghiệp máy tính. Nhưng thay vào đó, Apple đã thực sự suy giảm sức mạnh vì những mưu toan của các lãnh đạo cấp cao, những người tiêu tốn hàng triệu USD cho những dự án cá nhân, và sự sắp xếp lại đã khiến cho nhân viên mất phương hướng và nản chí.
Scully cũng cố giữ giá phần cứng do Apple sản xuất ở mức cao, trong thời điểm mà giá máy tính đang giảm xuống trông thấy. Điều này khiến cho cổ phiếu Apple xuống giá và chìm nghỉm trên thị trường chứng khoán. Bởi vì chẳng ai bỏ ra 10 nghìn USD để mua một chiếc Mac IIfx trong khi giá một chiếc PC chỉ còn phân nửa. Giá PC tiếp tục giảm, trong khi Apple thì vẫn giữ giá mà chẳng chịu thay đổi gì.
Những sai lầm khác của Scully phải kể đến việc nâng giá phần cứng do Apple sản xuất, rồi kế đó là việc cấp phép một phần GUI (giao diện đồ họa người dùng) của Apple cho Microsoft dẫn đến một phiên tòa vô cùng tốn kém. Có thể nói rằng, 10 năm ở thời của Scully chính là khoảng thời gian đen tối nhất của Apple.
Trường hợp của Scully là một ví dụ điển hình về những khác biệt giữa thế giới công nghệ và các mô hình kinh doanh khác. Pepsi và Coke có các sản phẩm giống nhau và là đối thủ cạnh tranh trong nhiều thập kỷ. Và mối đe dọa lớn nhất của mỗi công ty với phía bên kia chính là việc thiết kế một mẫu lon mới hoặc một chiến dịch marketing độc đáo, mà trường hợp của New Coke là một ngoại lệ điển hình.
Trong thế giới công nghệ, những cải tiến mới là quan trọng hơn cả. Một chiến dịch marketing hoành tráng hoặc một nhãn hiệu mới sẽ chẳng là gì nếu thiết bị phần cứng đằng sau nó không mang lại sự thích thú hay những tiện ích mới cho khách hàng.
Scully không bao giờ lĩnh hội được tiêu chí của Apple rằng một sản phẩm mới hoặc có thể làm cho khách hàng mê mẩn hoặc là không nên ra đời làm gì. Có một câu chuyện rằng sau khi trở lại Apple, Jobs đã gọi các kỹ sư đến và đặt trước mặt họ các sản phẩm đã được phát triển dưới thời của Scully:
“Những sản phẩm này có điểm chung là gì?” Ông hỏi và chờ đợi câu trả lời, tất cả im lặng. Jobs nói với họ: “Tất cả chúng đều vô dụng”. Cho dù câu nói này có đôi chút tàn nhẫn, nhưng sự thực là nó phần nào thể hiện được sự khác biệt giữa Apple do Jobs lãnh đạo và một Apple của Scully.
6. Darl McBride - SCO
Bill Gates chắc hẳn đã rất yêu quý Darl McBride. Sau nhiều năm được coi là người bị căm ghét nhất trong ngành IT, McBride tiếp quản chiếc ghế CEO của SCO với sự bồi hồi xúc động.
McBride cần gần một năm để đưa công ty của ông vào những rắc rối, bằng việc khởi kiện IBM vì cho rằng mã nguồn UNIX của SCO đã bị ăn cắp và sử dụng trong Linux và vì thế SCO đòi khoản tiền bồi thường là 1 tỷ USD. Những hành động này được cộng đồng mã nguồn mở hiểu rằng SCO đang cố gắng kiểm soát Linux, Vào tháng 5 năm đó, SCO còn gửi thư cảnh báo các công ty rằng họ sẽ gặp rắc rối nếu còn cố tình sử dụng Linux.
SCO sau đó còn bắt đầu khởi kiện các công ty tên tuổi khác trong khi McBride đã giãy nảy lên khi giới truyền thông cho rằng trường hợp của ông và SCO là sai trái, và lúc nào cũng cho rằng việc sử dụng các đoạn mã đó là phạm luật. Ông cũng bắt đầu nâng mức đòi tiền phạt từ IBM, từ 3 tỷ lên 5 tỷ USD.
Mọi việc có vẻ như rất thuận lợi, giá cổ phiếu của SCO tăng kịch trần, trong những lần trả lời phỏng vấn trước báo giới, McBride tỏ ra khá tự phụ và chắc chắn vào chiến thắng. Ông ta cũng chào bán các giấy phép cho việc sử dụng Linux, nhưng động thái này chẳng làm ai chú ý cả. Nhưng ông chẳng đủ tỉnh táo để xem xét những trường hợp này, nghĩa là ông ta chẳng có nhiều cơ hội để giành chiến thắng.
Về phía IBM, họ đã tập trung được một nhóm luật sư kỳ cựu và tổ chức những cuộc họp kín để bàn hướng giải quyết bằng việc tìm các bằng chứng chống lại cáo buộc của SCO. Và ngay sau khi SCO chính thức phát đơn kiện, IBM lập tức phản công.
IBM kiện lại SCO, và ngay sau đó có cả Ret Hat và Novell cùng tham gia, với những bằng chứng rằng họ mới đích thực có quyền sở hữu đối với UNIX. SCO yêu cầu được có thêm thời gian và phiên tòa được ấn định sẽ được xử vào năm 204. SCO không dừng lại ở đó, ban đầu chỉ tuyên bố rằng hàng trăm dòng code của họ đã bị ăn cắp, sau đó lên đến hàng triệu dòng và cáo buộc rằng GPL (hiệp hội phần mềm mã nguồn mở) đã vi phạm hiến pháp liên bang.
Cùng lúc đó, các luật sư đã tung đòn quyết định đối với vụ kiện mà SCO khởi xướng. IBM về cơ bản thách thức SCO đưa ra các bằng chứng về các dòng code bị đánh cắp, IBM sau đó cũng từ chối yêu cầu hoãn phiên tòa của SCO. Novell cũng thắng vụ kiện của họ và chứng minh được họ mới là những người có quyền sở hữu đối với UNIX chứ không phải là SCO.
Còn một số tranh tụng nữa vẫn chưa được giải quyết, nhưng ngày nay SCO đã phải đề nghị được bảo lãnh phá sản theo Chương 11, và chứng khoán của họ đã bị loại khỏi sàn giao dịch NASDAQ. Người ta kể rằng sau thất bại đáng xấu hổ đó, có một giải pháp cả gói dành cho McBride, đó là ông bị loại khỏi công ty. Và thật đáng tiếc cho công ty nào sau này được đặt dưới sự lãnh đạo của một người mắc bệnh hoang tưởng như McBride.
(Còn nữa)
Lược dịch từ Vnunet