
Thực hiện định hướng của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng đang đẩy mạnh các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và các lĩnh vực ưu tiên. Riêng nhóm Big 4 đã bố trí khoảng 220.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng.
Tuy nhiên, đằng sau những con số lãi suất hấp dẫn là nỗi lo về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ phía ngân hàng, khiến dòng vốn rẻ vẫn chưa thể chảy mạnh vào khu vực sản xuất nhỏ và vừa.
Nghịch lý “vốn dồi dào, cửa vẫn hẹp”
Chia sẻ với PV VietNamNet, ông Lâm Ngọc Tuấn, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp Tuấn Ngọc, TPHCM, cho biết, HTX đang có khoản vay trung hạn với lãi suất bình quân từ 8,5-9%/năm. Đây là mức lãi suất chấp nhận được so với năng lực sản xuất của HTX.
Liên quan đến các gói tín dụng ưu đãi dành cho SME và các lĩnh vực ưu tiên, ông Tuấn cho hay phía ngân hàng đã chủ động thông tin gói vay vốn rẻ tới doanh nghiệp, đồng thời thông báo sẽ bắt đầu nhận hồ sơ vay mới trong tháng 8. Dù vậy, ông Tuấn cho rằng không phải đơn vị nào cũng có cơ hội tiếp cận vốn rẻ.

Ông Hoàng M.C., Giám đốc điều hành một đơn vị xuất nhập khẩu tại Nghệ An, chia sẻ, doanh nghiệp đang có khoản vay trung hạn ở khối ngân hàng nhà nước với lãi suất 8,6%/năm và một khoản vay kỳ hạn 6 tháng ở ngân hàng thương mại với lãi suất 11,2%/năm.
Ông C. thông tin, mới đây một số ngân hàng thương mại còn cảnh báo áp lực thiếu hụt vốn khiến lãi suất cho vay có thể tăng vào cuối năm. Do đó, khi được hỏi về khả năng tiếp cận dòng vốn rẻ, ông C. chỉ trả lời ngắn gọn: "Khó".
Theo ông C., các SME muốn tiếp cận dòng vốn rẻ, nhất là dòng vốn từ khối ngân hàng nhà nước, phải có lịch sử tín dụng tốt, có báo cáo tài chính “đẹp” và tài sản thế chấp đúng quy mô - điều mà không phải đơn vị nào cũng đáp ứng được.
Vị này cho rằng, lãi suất giảm không đồng nghĩa doanh nghiệp sẽ tăng nhu cầu vay vốn. Nếu lãi suất giảm nhưng đơn hàng chưa có, hoặc tình hình sản xuất ảm đạm, việc tăng thêm đòn bẩy tài chính là điều ít doanh nghiệp nghĩ đến. Vì vậy, việc giảm lãi suất chưa hẳn là tạo ra động lực tăng trưởng cho khối SME.
Tương tự, đại diện một doanh nghiệp sản xuất bao bì tại TPHCM phản ánh, đơn vị đang vay thế chấp tại ngân hàng có vốn nước ngoài, dù mức lãi suất khá tốt so với khối ngân hàng thương mại song lãi cũng đã tăng 1-2% so với hồi tháng 6.
Vị này lo ngại, nếu các gói tín dụng tổng quy mô 220.000 tỷ đồng của nhóm Big 4 tiếp tục vận hành theo cơ chế cũ, dòng tiền nhiều khả năng lại chảy về nhóm doanh nghiệp vốn dĩ đã đủ điều kiện, thay vì đến đúng đối tượng đang khát vốn.
Vì sao doanh nghiệp chỉ “thấy vốn rẻ trên tivi”?
TS Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), thừa nhận, tỷ lệ SME tiếp cận được vốn ngân hàng vẫn ở mức thấp, chỉ khoảng 20-25%. Lý do là bởi điều kiện giải ngân vẫn đóng khung vào tài sản thế chấp là bất động sản.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Tuấn Anh, giảng viên ngành Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam, nhận định nút thắt lớn nhất của SME nằm ở tài sản bảo đảm. Bài học từ gói hỗ trợ lãi suất 2% theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP cho thấy tỷ lệ giải ngân thấp, một phần do nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được các tiêu chuẩn tín dụng truyền thống.

Từ trải nghiệm thực tế, ông Lâm Ngọc Tuấn chỉ ra các rào cản khiến khối SME khó chạm tay vào dòng vốn ưu đãi.
Trước hết, nhiều đơn vị chưa minh bạch sổ sách kế toán, khiến ngân hàng thiếu cơ sở để đánh giá năng lực tài chính và quyết định hạn mức tín dụng. Kế đến là sự chênh lệch về định giá tài sản, khi ngân hàng thường chỉ duyệt vay khoảng 70% giá trị thanh lý, trong khi doanh nghiệp lại muốn vay sát giá trị giao dịch thực tế.
Ngoài ra, năng lực quản trị còn hạn chế, cùng thói quen phân tán dòng tiền qua nhiều tài khoản khiến tổ chức tín dụng khó đánh giá thực lực doanh thu.
Thay đổi cách đánh giá tín dụng và chia sẻ rủi ro
Dù còn nhiều trở ngại trong giải ngân, TS Nguyễn Tuấn Anh vẫn khẳng định các chương trình tín dụng ưu đãi, trong đó có tổng quy mô 220.000 tỷ đồng của Big 4, là trợ lực kịp thời của các ngân hàng thương mại nhà nước. Dòng vốn này giải quyết cùng lúc hai bài toán gồm bổ sung thanh khoản ngắn hạn để doanh nghiệp duy trì vận hành, trả lương giữ chân lao động, đồng thời tạo điều kiện hạ chi phí để tái đầu tư công nghệ, nâng cao biên lợi nhuận.
Để khơi thông nguồn vốn rẻ, ông gợi mở kinh nghiệm từ mô hình Quỹ Bảo lãnh Tín dụng (SMEG) của Đài Loan (Trung Quốc), nơi Chính phủ đứng ra bảo lãnh 80-90% rủi ro khoản vay dựa trên tính khả thi của phương án kinh doanh thay vì bất động sản thế chấp.
Đồng thời, ông cho rằng hệ thống ngân hàng trong nước cần đẩy mạnh cho vay dựa trên dòng tiền và ứng dụng các nguồn dữ liệu thay thế, như lịch sử nộp thuế, hóa đơn điện tử, doanh thu qua tài khoản để chấm điểm tín dụng. Song song đó, hoàn thiện khung pháp lý miễn trừ trách nhiệm cho cán bộ tín dụng trước rủi ro khách quan và cấp đủ nguồn lực cho các Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương.
TS Tô Hoài Nam cũng nhấn mạnh, không thể yêu cầu các ngân hàng thương mại hạ chuẩn tín dụng để gánh rủi ro nợ xấu, song hoàn toàn có thể thay đổi cách thức đánh giá tín dụng.
Theo ông Nam, ngân hàng cần đa dạng hóa các tiêu chí thẩm định dựa trên dữ liệu số, từ dòng tiền hoạt động qua tài khoản, lịch sử hóa đơn điện tử, hợp đồng thực tế cho đến hệ thống máy móc, kho bãi và quyền sở hữu trí tuệ… Ngoài ra, cơ chế bảo lãnh tín dụng cũng cần được vận hành thực chất hơn. Các định chế bảo lãnh nên áp dụng hình thức bảo lãnh từng phần từ 30% đến 50% để cùng chia sẻ rủi ro với ngân hàng thương mại.
“Đặc biệt, việc công khai minh bạch điều kiện và lý do từ chối giải ngân của từng gói tín dụng cũng là yêu cầu cấp thiết để xác định rõ dòng vốn đang tắc nghẽn ở khâu nào”, TS Nam nói.
