anh 3(1) (1).jpg
Bên bếp lửa của một gia đình ở Mù Cang Chải, Người có uy tín, cán bộ địa phương trao đổi, hướng dẫn người dân tiếp cận và kiểm chứng thông tin trên mạng xã hội. Ảnh Tuấn Ninh

Chuyển đổi số thường dựa trên số liệu về việc có bao nhiêu cơ sở dữ liệu, phần mềm và thủ tục được đưa lên môi trường mạng... Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trên vùng đồng bào DTTS, chuyển đổi số cần bắt đầu bằng 3 câu hỏi cơ bản nhất: Những nhóm đối tượng nào có nguy cơ bị bỏ sót trong việc tiếp cận chính sách? Quyền lợi của người dân trong thụ hưởng chính sách đang bị chậm ở khâu nào? Nguồn lực phát triển đã kết nối được với nhu cầu của từng cộng đồng hay chưa?

Từ “có mạng” đến “được hưởng lợi”
Hạ tầng số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi đã tiến một bước dài. Điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy 85,6% hộ gia đình người dân tộc thiểu số có Internet tại nhà; ở nông thôn, tỷ lệ này là 84,2%.

Tuy vậy, số hộ có máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay chỉ hơn 10%. Khoảng cách số vì thế không còn chỉ là chuyện có sóng, mà là người dân có dùng được công nghệ để nhận quyền lợi, giảm chi phí và tăng thu nhập hay không.

Thực tế, không ít người đã có điện thoại thông minh nhưng vẫn phải đi nhiều lần để hỏi một thủ tục; có gian hàng trực tuyến nhưng chưa bán được hàng; cài ứng dụng nhưng không hiểu thông báo. Cơ quan quản lý cũng có khi chưa theo dõi được kết quả của một hỗ trợ sinh kế sau 6 tháng hay 12 tháng. Nếu chỉ đếm tài khoản, lượt tải và lớp tập huấn, dự án có thể hoàn thành về kỹ thuật mà đời sống chưa thay đổi.

Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030 coi dữ liệu số là tài nguyên chiến lược và nền tảng dùng chung là công cụ triển khai thống nhất.

Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Dân tộc và Tôn giáo cũng hướng tới điều hành dựa trên dữ liệu, thu hẹp khoảng cách số ở vùng khó khăn. Việc cần làm lúc này là biến các định hướng đó thành một kiến trúc phục vụ người dân, thay vì tiếp tục dựng thêm những hệ thống đứng riêng lẻ.

Ba mắt xích của một hệ thống phục vụ người dân

Quá trình thực hiện chính sách có ba mắt xích. Trước hết là nhận diện đúng người, đúng nhu cầu và khoảng trống chính sách. Tiếp đó là đưa quyền lợi đến đúng người, đúng lúc, với chi phí thấp nhất. Cuối cùng, hỗ trợ ban đầu phải nối được với tri thức, vốn, doanh nghiệp và thị trường để tạo sinh kế bền vững.

Từ đó hình thành ba trụ cột số: dữ liệu và điều hành chính sách; dịch vụ giúp người dân tiếp cận, thụ hưởng chính sách; kết nối nguồn lực, sinh kế và tương trợ cộng đồng.

Đây không phải ba dự án công nghệ tách rời. Dữ liệu phát sinh trong giải quyết thủ tục và các mô hình sinh kế phải quay lại hệ thống điều hành, cho thấy chính sách đã tạo ra kết quả gì và cần điều chỉnh ở đâu. Vòng phản hồi ấy mới làm nên phương thức quản trị dựa trên dữ liệu.

Dữ liệu phải chỉ ra nhóm cư dân nào có nguy cơ bị bỏ lại phía sau

Dữ liệu về dân cư, hộ nghèo, nhà ở, đất đai, giáo dục, y tế, việc làm, tín dụng và thụ hưởng chính sách đang nằm ở nhiều cơ quan, được cập nhật theo thời điểm và tiêu chí khác nhau.

Không nên vì thế mà xây thêm một cơ sở dữ liệu biệt lập hoặc yêu cầu người dân khai lại thông tin Nhà nước đã có. Cần xác định bộ thông tin tối thiểu phục vụ công tác dân tộc, làm rõ nguồn dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, quyền khai thác và kết nối theo đúng thẩm quyền.

Mỗi thôn, bản và địa bàn đặc biệt khó khăn nên có một “hồ sơ phát triển số”, phản ánh cả thiếu hụt cần khắc phục lẫn nguồn lực có thể phát huy: hạ tầng, nước sinh hoạt, giáo dục, y tế, sinh kế, văn hóa, thiên tai, di cư và các nguồn đầu tư.

Hồ sơ phải được cập nhật khi có biến động, đủ để trả lời ba việc: vấn đề nào cấp thiết, ai chưa được hỗ trợ và nguồn lực nào đang trùng lặp hoặc bỏ trống.

1 (1).jpg
Việc tăng cường "Người bản số" góp phần nâng cao khả năng tiếp cận chuyển đổi số cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS. Ảnh: Trọng Bảo

Mỗi chính sách cũng cần được chuẩn hóa thành các trường thông tin rõ ràng về đối tượng, điều kiện hưởng, mức hỗ trợ, hồ sơ, cơ quan giải quyết, thời hạn và kết quả.

Nhờ đó, hệ thống có thể gợi ý trường hợp đủ điều kiện nhưng chưa tiếp cận chính sách, cảnh báo nơi chậm tiến độ và tổng hợp những nhu cầu chưa được bao phủ. Công nghệ chỉ hỗ trợ phát hiện; quyết định vẫn thuộc cơ quan có thẩm quyền. Người dân phải được kiểm tra và đề nghị sửa thông tin liên quan đến mình.

Dịch vụ số phải để người dân hiểu được, dùng được

Với người dân ở miền núi, “dịch vụ công trực tuyến toàn trình” chỉ có ý nghĩa khi họ biết mình được hưởng gì, cần giấy tờ nào, hỏi ai khi chưa rõ và theo dõi hồ sơ ra sao. Một quy trình hoàn toàn trực tuyến nhưng đầy thuật ngữ pháp lý, đòi hỏi điện thoại cấu hình cao hoặc đường truyền ổn định vẫn có thể trở thành một hàng rào mới.

Vì vậy, cần có kho tri thức chính sách chính thức với ba lớp nội dung: văn bản pháp lý đầy đủ; hướng dẫn ngắn gọn bằng ngôn ngữ phổ thông; nội dung nghe, nhìn hoặc tiếng dân tộc phù hợp từng địa bàn.

Công cụ hỏi đáp bằng văn bản và tiếng nói có thể hỗ trợ người dân tìm hiểu chính sách, giấy tờ và tình trạng hồ sơ. Mỗi câu trả lời phải chỉ rõ nguồn và thời điểm cập nhật; trường hợp chưa đủ căn cứ phải chuyển cho cán bộ phụ trách, không được suy đoán làm ảnh hưởng quyền lợi của người dân.

Dịch vụ cũng không nên bị đóng trong một ứng dụng mới. Các chức năng cần kết nối với VNeID, Cổng Dịch vụ công quốc gia và kênh của địa phương, đồng thời vẫn có trang web nhẹ, tổng đài, tin nhắn, chế độ làm việc khi mất mạng và điểm hỗ trợ trực tiếp.

Ở nơi còn hạn chế về ngôn ngữ, kỹ năng số, cán bộ cơ sở, tổ công nghệ số cộng đồng, giáo viên, đoàn viên, người có uy tín và thanh niên địa phương vẫn là “giao diện con người” không thể thay thế.

Kết nối số phải tạo sinh kế, không đơn thuần là tạo gian hàng

Một sản phẩm địa phương lên sàn thương mại điện tử chưa đồng nghĩa với chuyển đổi số thành công. Nếu chất lượng chưa ổn định, bao bì chưa phù hợp, logistics yếu, hợp đồng thiếu chặt chẽ và người bán không nắm nhu cầu thị trường, gian hàng trực tuyến chỉ là một địa chỉ ít người ghé.

Trụ cột sinh kế phải bắt đầu từ nhu cầu và nguồn lực đã được xác minh. Cộng đồng cần kỹ thuật chế biến, quản trị hợp tác xã, vốn lưu động, tiêu chuẩn chất lượng hay đầu ra phải được kết nối với đúng doanh nghiệp, ngân hàng, chuyên gia, trường đại học hoặc tổ chức hỗ trợ. Mỗi bên cần có việc phải làm và thời hạn cụ thể. Sự đồng hành phải kéo dài đến khi người dân sử dụng được kỹ thuật và xử lý được vướng mắc ban đầu, không dừng ở một lớp tập huấn hay lễ ký kết.

Giai đoạn đầu có thể chọn khoảng 10 chuỗi sản phẩm, dịch vụ có thị trường và phù hợp lợi thế từng vùng. Công nghệ chỉ nên đặt vào những khâu tạo giá trị rõ ràng như quản lý chi phí, đơn hàng, truy xuất nguồn gốc, logistics, hợp đồng, thanh toán và thông tin thị trường.

uploads 2025 thang 8 ngay 27 ngoc chi 2.jpg
Xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" đến với người dân. Ảnh: Ngọc Chí 

Nhà nước cung cấp hạ tầng kết nối, tiêu chuẩn, thông tin và cơ chế bảo vệ người dân, nhưng không làm thay quyết định kinh doanh của hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Không gian số cũng có thể giúp cộng đồng chia sẻ giống cây, kỹ thuật, mô hình giảm nghèo, kinh nghiệm bảo vệ rừng, làm du lịch hoặc ứng phó thiên tai. Song việc số hóa tri thức truyền thống phải dựa trên sự đồng thuận, tôn trọng quyền và lợi ích của cộng đồng nắm giữ tri thức. Không thể lấy tri thức ra khỏi cộng đồng mà không có cơ chế chia sẻ lợi ích.

Đo chuyển đổi số bằng thay đổi trong đời sống của người dân

Thước đo quan trọng không phải hệ thống có bao nhiêu chức năng, mà người dân được phục vụ tốt hơn đến đâu. Với dữ liệu, cần đo mức giảm bỏ sót, trùng lặp, xác định sai đối tượng và thời gian xử lý một vấn đề.

Với dịch vụ số, cần đo số lần đi lại, thời gian, chi phí và tỷ lệ người đủ điều kiện nhận quyền lợi đúng hạn. Với sinh kế, phải theo dõi thu nhập, việc làm còn duy trì sau 12 tháng, việc thực hiện hợp đồng và khả năng tự vận hành khi hỗ trợ kết thúc.

Cách đánh giá này cần số liệu trước và sau, ý kiến trực tiếp của người dân và đánh giá độc lập. Khi đó, dự án công nghệ phải chịu trách nhiệm về kết quả phát triển, chứ không chỉ dừng ở nghiệm thu phần mềm.

Tổ chức thí điểm, đánh giá kết quả rồi mới mở rộng

Một kiến trúc lớn không nhất thiết khởi đầu bằng phạm vi lớn. Có thể thí điểm ở một số địa bàn khác nhau về ngôn ngữ, hạ tầng và sinh kế; lựa chọn 5-7 nhóm chính sách thiết yếu, 3-5 ngôn ngữ dân tộc có đủ điều kiện dữ liệu và khoảng 9-10 chuỗi giá trị có triển vọng. Điều cần kiểm chứng là hệ thống có chạy được ở nơi mạng yếu, trên thiết bị phổ thông và trong quy trình công vụ hằng ngày hay không.

Chỉ nên mở rộng hợp phần đã chứng minh được ba kết quả: người dân tiếp cận chính sách thuận lợi hơn; cơ quan nhà nước quyết định chính xác hơn; cộng đồng có thêm năng lực tự tổ chức phát triển. Cách làm này giúp tránh đầu tư dàn trải, phát sinh thêm đầu mối báo cáo và biến chuyển đổi số thành cuộc đua xây ứng dụng.

Ở vùng đồng bào DTTS và miền núi, khoảng cách phát triển thường do nhiều độ trễ cộng lại: thông tin đến chậm, thủ tục phải đi xa, chính sách bỏ sót, hỗ trợ không có đầu ra.

Chuyển đổi số chỉ có giá trị khi tháo được những độ trễ ấy. Đích đến không phải đưa người dân vào một hệ thống số, mà là để quyền lợi, cơ hội và nguồn lực đến với họ nhanh hơn, công bằng hơn và bền vững hơn.