
Ý tưởng táo bạo
Chương trình Quốc gia về CNTT được Chính phủ phê duyệt để thực hiện từ 1995 đến 2000. Nhưng cuối năm 1998, Chính phủ lại quyết định rút chương trình này ra khỏi các chương trình mục tiêu của Nhà nước. Sau đó, Đề án tin học hoá cải cách hành chính trong cơ quan Nhà nước (Đề án 112) ra đời (năm 2001). Nhiều người cho rằng Chính phủ muốn dùng Đề án 112 để thay thế Chương trình Quốc gia CNTT. Khi đó, anh em trong Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia CNTT đã cố gắng thuyết phục Chính phủ không nên dừng Chương trình này. Vấn đề mà anh em làm CNTT lo lắng hơn cả là sự ra đời của Đề án 112 chỉ giải quyết được vấn đề tin học hoá cải cách hành chính, trong khi lĩnh vực CNTT rất rộng, bao gồm nhiều nội dung: ứng dụng CNTT, công nghiệp CNTT, phần mềm… Mặc dù vậy, Chính phủ vẫn giữ nguyên quyết định và chỉ thị phải tiến hành tổng kết Chương trình Quốc gia CNTT để chấm dứt. Chúng tôi đã phải thi hành theo quyết định của Chính phủ song cũng nhận thức rõ không còn Chương trình Quốc gia CNTT thì tình hình phát triển CNTT ở các Bộ, các ngành, các địa phương sẽ lâm vào tình trạng như "rắn mất đầu". Trước mối nguy đó, dưới sự chỉ đạo của GS. Đặng Hữu, chúng tôi đã soạn thảo báo cáo thuyết phục Bộ Chính trị ra một Nghị quyết hay Chỉ thị về CNTT để tiếp tục định hướng, thúc đẩy CNTT phát triển, với mong muốn "lấp đầy" khoảng trống do Chương trình Quốc gia CNTT chấm dứt.
Lúc đó, khái niệm PM là một ngành công nghiệp chưa phải đã phổ dụng. Tuy nhiên, theo ý kiến của chúng tôi và tham khảo thực tế ở một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… thấy rằng Việt Nam nên phát triển CNpPM. Vì vậy, chúng tôi đã đề nghị Chính phủ ra NQ 07 về phát triển CNpPM. Sau đó, tiếp tục đề nghị với Bộ Chính trị ra Chỉ thị 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT.
Thuyết phục
Đầu năm 2000, khi chúng tôi làm chương trình về phát triển CNpPM thì cả nước mới có khoảng 2000 người làm phần mềm ở các mức độ khác nhau nhưng thường là ở mức độ đơn giản nhất, mức độ gia công, làm những PM nhỏ ứng dụng, chưa có PM đóng gói và PM lớn. Đặc biệt, chúng ta chưa có được đội ngũ kỹ thuật viên làm PM theo chuẩn quốc tế từ thấp đến cao. Bắt tay soạn thảo NQ 07, nhóm soạn thảo với các thành viên chủ chốt gồm: tôi, anh Đỗ Văn Lộc, anh Nguyễn Trọng, anh Trần Minh Tiến… đã tổ chức thu thập ý kiến của các Bộ, ngành và chuyên gia. Kết quả là có 2 lực lượng với 2 luồng ý kiến hoàn toàn đối lập nhau. Lực lượng thứ nhất là những người nhận thức rõ ngành PM rất có tiềm năng phát triển và cần thiết phải ban hành NQ 07 về phát triển CNpPM nhằm động viên những người làm PM Việt Nam. Lực lượng thứ hai là những người có tư tưởng phát triển theo truyền thống. Họ cho rằng ý tưởng xây dựng ngành CNpPM của chúng tôi khi đó là khá viển vông bởi theo họ thì trước hết phải có đội ngũ nhân lực làm PM rồi mới có thể nói đến sự ra đời ngành CNpPM. Trước tình hình đó, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã phải triệu tập một cuộc họp tại Văn phòng Chính phủ để 2 lực lượng có luồng ý kiến trái ngược nhau được đối thoại trực tiếp. Tại cuộc họp đó, các DN làm PM cùng nhóm soạn thảo NQ 07 đã đối thoại trực tiếp với đại diện các Bộ, các ngành và những anh em cũng làm khoa học một cách chân chính song không tin tưởng lắm vào cách đặt vấn đề của chúng tôi. May thay, lúc bấy giờ lực lượng trẻ làm PM rất ủng hộ đề xuất của ban soạn thảo. Chúng tôi đã giải thích rằng người trực tiếp làm là các DN mà các DN đã đảm bảo họ có thể làm được thì tại sao lại không cho họ làm? Đồng thời, chúng tôi cũng thuyết minh rằng Nghị quyết này của Chính phủ chỉ là đề ra mục tiêu để phấn đấu và tạo một số điều kiện để ngành PM phát triển, chứ Chính phủ không phải đầu tư gì nhiều. Theo tôi đây là cuộc tranh luận gay gắt nhất trong thời kỳ xây dựng NQ 07. Sau khi đối thoại thẳng thắn, Chính phủ cũng thấy rằng cần phải xây dựng NQ 07.
Khi thảo luận xây dựng NQ 07, con số gây tranh cãi nhiều nhất là doanh số CNpPM 500 triệu USD vào năm 2005; trong đó xuất khẩu (chủ yếu là làm thuê và gia công) là 200 triệu USD và phục vụ thị trường nội địa là 300 triệu USD. Trên cơ sở đăng ký tự nguyện một cách rất tự tin của "các hộ" lớn (VNPT - 200 triệu USD, TP. HCM - 200 triệu USD, FPT-200 triệu USD, An ninh và Quốc phòng - 200 triệu USD, và gần 100 triệu USD từ các hộ nhỏ khác), nhóm soạn thảo NQ 07 đã căn cứ vào con số thống kê về nhu cầu sử dụng và xuất nhập khẩu PM trong khoảng 5 năm trước và sau năm 2000, vào tiềm năng (đầy triển vọng) và khả năng thực tế (còn rất khiêm tốn) về nguồn nhân lực và khả năng tổ chức thực hiện, trừ hao đi khoảng 50% tổng doanh số được đăng ký, để giữ lại con số 500 triệu USD đưa vào chỉ tiêu của Nghị quyết.
(Còn tiếp)
Ghi theo lời kể của GS -TS Chu Hảo
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt