Cùng với chỉ tiêu có khoảng 25.000 kỹ sư và chuyên viên PM vào năm 2005, con số 500 triệu USD rất có ý nghĩa. Thứ nhất, nếu đạt được chỉ tiêu đó thì từ năm 2005 thực sự chúng ta có một ngành công nghiệp mũi nhọn, điển hình cho nền kinh tế mới, kinh tế tri thức dựa trên khoa học và công nghệ cao. Theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển, bình quân mỗi người lao động trong lĩnh vực CNpPM đạt năng suất khoảng 20.000 USD /năm. Nếu có 25.000 người làm CNpPM chuyên nghiệp và tạo được đủ việc làm cho họ thì con số 500 triệu USD không phải là quá xa vời. Một ngành kinh tế mới với sản lượng trên 1% GDP có thể coi là đã "ra khỏi đường băng để cất cánh". Thứ hai, nếu 200 triệu USD trên tổng số 500 triệu USD sản phẩm CNpPM được tiêu thụ ở thị trường trong nước thì có nghĩa là CNTT đã được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả. Điều đó cũng chứng tỏ các yếu tố của kinh tế tri thức đã thẩm thấu mạnh mẽ vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội.

Quả thực cách tính nêu trên của chúng tôi khi đó khá đơn giản song cũng đã phần nào thể hiện sự cân nhắc của ban soạn thảo. Tuy nhiên, khi đề nghị Chính phủ ban hành nghị quyết về phát triển CNpPM, nhóm soạn thảo NQ 07 chúng tôi không coi mục tiêu đạt 500 triệu USD doanh số PM là vấn đề quan trọng số 1 mà quan trọng hơn cả là sự ra đời của bản nghị quyết này sẽ đặt nền móng cho một ngành công nghiệp mới. Tôi thì tin tưởng rằng nếu năm 2005 mục tiêu 500 triệu USD không đạt được thì sau đó một vài năm nhất định sẽ đạt được; nhưng nếu lúc đó, chúng ta không đặt chỉ tiêu thì thời gian đạt càng lâu hơn. Chúng tôi đã lập luận: "Ngành cao su khi đó chưa được 50 triệu USD mà được coi là ngành công nghiệp của Việt Nam. Vậy hà cớ gì ngành phần mềm mới bắt đầu đã thấy con số 50 triệu USD có thể dễ dàng đạt được ngay trong năm sau đó, lại không được gọi là ngành công nghiệp? ". Do đó, nếu càng đi sớm, coi PM là một ngành công nghiệp, tìm mọi cách để PM phát triển thì chắc chắn PM sẽ là ngành công nghiệp rất có tương lai của Việt Nam. Ngày 5/6/2000, Nghị quyết 07/CP của Chính phủ về xây dựng và phát triển CNpPM giai đoạn 2000-2005 đã chính thức ra đời trong sự kỳ vọng, hưởng ứng của những người làm phần mềm Việt Nam.

Gian nan "cán" đích

Tiếc thay, có một sự thật là sau hơn hai năm thực hiện NQ 07, thực trạng diễn ra đáng lo hơn là đáng mừng. Ngay từ đầu chúng ta đã xác định rằng chủ thể thực hiện NQ 07 chủ yếu là các DN phần mềm và cũng ngay từ đầu họ đã tỏ ra lạc quan với chính sách ưu đãi của Nhà nước. Đến cuối 2002, cả nước đã có khoảng 330 doanh nghiệp phần mềm; gần 10 Trung tâm CNpPM của các tỉnh, thành phố và các trường Đại học đã đi vào hoạt động; số người được đào tạo về CNpPM cũng tăng lên rõ rệt, đặc biệt là từ các khoa CNTT thuộc các trường ĐH lớn, các Trung tâm Aptech và Hệ thống sát hạch lấy chứng chỉ của các hãng nước ngoài... Thế nhưng, năm 2002 doanh số CNpPM Việt Nam vẫn chưa vượt được con số 100 triệu USD. Khi đó, Chính phủ và một số lãnh đạo Bộ, ngành nhận thấy rằng những mục tiêu của NQ07 có thể không đạt được. Không ít người cho rằng nhóm soạn thảo chúng tôi đã đã đưa ra những mục tiêu viển vông, thiếu thực tế.

Tôi còn nhớ, khoảng cuối 2002 đầu năm 2003, trả lời phỏng vấn báo chí về khả năng thực hiện các chỉ tiêu của NQ 07, TS.Trương Gia Bình, Tổng giám đốc Công ty FPT đã nói: "Với thực trạng hiện nay tôi nghĩ là không! ". Sau đó khoảng vài ngày, tôi đã gặp và hỏi anh Bình: "Nếu trong năm 2003, Bộ chịu trách nhiệm về CNTT mới được thành lập (Bộ Bưu chính - Viễn thông) và Ban Chỉ đạo 58 mới được thành lập lại (do Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm trực tiếp làm Trưởng ban) có những quyết sách chiến lược và chỉ đạo thực hiện quyết liệt như Thủ tướng Võ Văn Kiệt trước đây đã làm với công trình đường dây 500KV thì các chỉ tiêu của NQ 07 có đạt được không? ". Anh Bình đã hồ hởi trả lời: "Hoàn toàn được! chưa muộn! 2003 có thể là năm bản lề". Sau đó, tôi có kiến nghị Chính phủ cần quyết liệt, gấp rút chỉ đạo thực hiện "Chiến dịch 07", tập trung vào 5 điểm cốt lõi: Một là, thông qua việc triển khai thực hiện Chỉ thị 58, đặc biệt là các Dự án Tin học hoá các cơ quan của Đảng và Chính phủ, Nhà nước phải là khách hàng quan trọng nhất của CNpPM Việt Nam, lấy việc phát triển và ứng dụng các phần mềm nguồn mở làm khâu đột phá; Hai là, Chính phủ trực tiếp đàm phán mở rộng các thị trường quốc tế quan trọng như Nhật Bản, Mỹ và EU; Ba là, đảm bảo giá và chất lượng các dịch vụ Internet và viễn thông ngang bằng với mức trung bình của khu vực; Bốn là, mở rộng hệ thống đào tạo kỹ sư và chuyên viên CNpPM theo các chương trình chuẩn quốc tế của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu nguồn nhân lực trong nước và xuất khẩu lao động có trình độ kỹ thuật cao; Năm là, có sự hỗ trợ đặc biệt đối với Hiệp hội các doanh nghiệp CNpPM và các Trung tâm CNpPM.

Đáng tiếc rằng, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên mục tiêu đạt 500 triệu USD doanh số phần mềm vào năm 2005 đã "lỗi hẹn". Mãi đến cuối 2007, anh em làm phần mềm công bố mục tiêu 500 triệu USD của ngành phần mềm đã đạt được rồi, tôi đã rất vui mừng. Điều đến giờ tôi vẫn tự hào khẳng định là: "Một ngành công nghiệp mới mà chỉ chậm chỉ tiêu có 2 năm thì không đáng kể gì so với rất nhiều công trình khác của nhà nước". Song quan trọng hơn cả là hiện nay chúng ta đã có được ngành CNPM càng ngày càng phát triển. Anh em trong ngành phần mềm còn dự kiến đến 2010 sẽ lên đến mốc 800 triệu USD.

Ghi theo lời kể của GS -TS Chu Hảo

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 118 ra ngày 01/12/2008