Già làng Bríu Pố (77 tuổi, thôn Arớh, xã Tây Giang) chậm rãi đưa tay lên những mảng chạm trên vách gươl. Ông lần lượt chỉ hình con trâu, chim tring, người đánh chiêng, người giã gạo rồi nói, mỗi hình khắc đều lưu giữ một phần ký ức của người Cơ Tu.

Đời sống bản làng hôm nay đã khác trước. Đường vào làng thuận tiện, nhà cửa kiên cố hơn; lớp trẻ đi học, đi làm xa. Nhưng giữa làng Arớh, nhà gươl vẫn được giữ ở vị trí trang trọng nhất.

“Làng Cơ Tu mà không có gươl thì mất đi cái hồn của làng”, già Pố nói.

W-5A0A5088.jpg
Nhà gươl của người Cơ Tu mang kết cấu nhà sàn truyền thống, mái lợp lá dày, được nâng đỡ bởi hệ thống cột gỗ lớn.

"Trái tim" của bản làng

Với người Cơ Tu, gươl là nơi cộng đồng gặp gỡ, họp bàn việc chung, tổ chức lễ hội, hòa giải mâu thuẫn và truyền lại luật tục cho con cháu.

Già Bríu Pố cho biết, ngày trước, khi lập làng, đồng bào thường dựng gươl trước rồi mới làm nhà ở xung quanh. Công trình này cũng kết tinh công sức của cả cộng đồng. Người chọn cây, chẻ tre, lợp mái, đẽo cột; người khéo tay chạm hoa văn, tạc hình chim thú và cảnh sinh hoạt lên gỗ.

“Gươl có tiếng chiêng, có bếp lửa, có những điệu múa truyền thống, đồng thời là nơi gắn kết mọi chuyện chung trong làng”, già Pố chia sẻ.

W-5A0A5048.jpg
Già làng Bríu Pố thổi tù và bên nhà gươl làng Arớh, nơi ông thường truyền dạy văn hóa truyền thống cho lớp trẻ.

Trên các mảng gỗ là hình con trâu, chim tring, tắc kè, trăn, hổ; bên cạnh là cảnh phụ nữ giã gạo, người đi săn, đánh chiêng và những vòng múa trong lễ hội. Trên đỉnh mái thường có đôi gà trống quay về hai phía.

Những hình tượng ấy không đơn thuần để trang trí. Đó là cách người Cơ Tu kể chuyện làng bằng gỗ, để con cháu hiểu ông bà mình từng lao động, sinh hoạt và nương tựa vào núi rừng như thế nào.

Theo già làng Hồ Văn Mới (62 tuổi, thôn Ga’nil, xã Hùng Sơn), hổ biểu trưng cho sức mạnh; chim tring gắn với vẻ đẹp và sự linh thiêng; con trâu là tài sản quý, gắn với cơ nghiệp của mỗi gia đình. Đôi gà trống trên mái nhắc mọi người dậy sớm, chăm chỉ làm ăn, đồng thời gửi gắm mong ước về cuộc sống bình yên, no đủ.

Đặc biệt, trong quan niệm của người Cơ Tu, rắn thần bhi’dưa có nhiệm vụ canh giữ hũ của thần nước, thường sống ở đầm lầy, ao hồ, sông suối. Người có ý nghĩ, lời nói hoặc việc làm xấu khi đi qua vùng nước có thể bị rắn thần trừng phạt.

Vì vậy, hình trăn và rắn cạp nong thường được chạm nổi trên các thanh ván ở mặt chính nhà gươl, phổ biến trong tư thế đang di chuyển.

W-5A0A4071.jpg
Hình tượng rắn thần được chạm khắc trên xà ngang bên trong nhà gươl.

Theo già Mới, hình tượng này vừa thể hiện sự tôn kính với thế giới tâm linh, vừa nhắc dân làng sống ngay thẳng, không làm điều xấu.

“Mỗi hình chạm trên gươl đều mang một câu chuyện, nhắc con cháu nhớ về đời sống, núi rừng và những điều cha ông truyền lại. Giữ được gươl cũng là giữ được ký ức của làng”, già Mới nói.

W-5A0A4054.jpg
Già làng Hồ Văn Mới giới thiệu những hình chạm và hoa văn bên trong nhà gươl.

Dưới mái nhà chung, chuyện giữ rừng, bảo vệ nguồn nước, tổ chức cưới hỏi, lễ hội hay giải quyết bất đồng đều được đưa ra bàn bạc. Mỗi dịp lễ hội, sân gươl lại rộn ràng tiếng cồng chiêng, điệu múa tâng tung da dá và nghi thức dựng cây nêu.

Gươl còn lưu giữ nhạc cụ, thổ cẩm cùng nhiều vật dụng truyền thống. Tại đây, các già làng thường dạy con cháu thổi sáo, thổi tù và, để tiếng nhạc và những câu chuyện của làng được truyền sang thế hệ sau.

Không chỉ hiện diện trong lễ hội, gươl còn gắn với những việc bình dị của bản làng. Mỗi cuộc họp, buổi truyền dạy hay lần con cháu quây quần bên người già đều giúp những quy ước và ký ức cộng đồng được nhắc lại, tiếp nối.

W-5A0A4635.jpg
Đồng bào Cơ Tu trình diễn nhạc cụ truyền thống trong không gian lễ hội trước nhà gươl.

Giữ "hồn làng" trong nhịp sống mới

Ở xã Hùng Sơn, những mái gươl hiện diện gần "vương quốc Pơ mu" ngàn năm tuổi, giữa màu xanh thẫm của đại ngàn. Với đồng bào nơi đây, giữ nhà chung không tách rời việc giữ rừng, nguồn nước và những quy ước đã được duy trì qua nhiều thế hệ.

Khi đón khách tham quan làng du lịch sinh thái rừng Pơ mu, nhà gươl là nơi người dân giới thiệu kiến trúc, đời sống cộng đồng và mối quan hệ giữa người Cơ Tu với rừng. Du khách có thể ngồi dưới mái nhà chung, nghe kể về những cây cổ thụ, cách dân làng bảo vệ nguồn nước và các quy ước khi vào rừng.

W-5A0A4669.jpg
Người Cơ Tu múa tâng tung da dá bên nhà gươl phục vụ du khách tại làng du lịch sinh thái Pơ Mu.

Theo già làng C’Lâu Blao (83 tuổi, thôn Voòng, xã Hùng Sơn), làm du lịch giúp người dân có thêm việc làm, nhưng điều quan trọng là không để những giá trị truyền thống bị mai một.

“Cái mới thì mình học để cuộc sống tốt hơn, còn tiếng chiêng, điệu múa, nhà gươl và những điều cha ông để lại phải giữ cho con cháu”, già Blao nói.

W-5A0A4327.jpg
Già làng C’Lâu Blao trình diễn nhạc cụ truyền thống tại nhà gươl, vừa phục vụ du khách vừa trao truyền những giá trị văn hóa Cơ Tu.

Tại làng du lịch cộng đồng Bhơ Hôồng (xã Sông Kôn), nhà gươl cũng nằm ở vị trí trung tâm, xung quanh là những ngôi nhà moong mang dáng dấp kiến trúc truyền thống. Đây vừa là nơi dân làng sinh hoạt, vừa là điểm đón khách và tổ chức các hoạt động văn hóa.

Chị Đinh Thị Thìn (SN 1989, người Cơ Tu), hướng dẫn viên tại Bhơ Hôồng, cho biết du khách đến gươl được gặp gỡ người dân, nghe già làng giới thiệu phong tục, xem biểu diễn cồng chiêng, điệu múa truyền thống và tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm.

Điều khiến nhiều du khách chú ý không chỉ là hình dáng ngôi nhà mà còn là những câu chuyện phía sau các mảng chạm, nhạc cụ và vật dụng bên trong.

“Khi người dân trực tiếp giới thiệu, biểu diễn và kể chuyện, du khách có thể hiểu văn hóa Cơ Tu từ chính đời sống thường ngày của cộng đồng”, chị Thìn chia sẻ.

W-1784795453582_1787825367193876031_6407749472675337500_0321da29140399f13618e8de2d16a998.jpg
Chị Đinh Thị Thìn cùng người dân Bhơ Hôồng chụp ảnh lưu niệm với du khách trước nhà gươl của làng.

Việc đón khách tại gươl cũng tạo thêm sinh kế. Người biết đánh chiêng, múa hát tham gia biểu diễn; người dệt thổ cẩm giới thiệu sản phẩm; các hộ dân chuẩn bị món ăn và sản vật địa phương.

Nhờ đó, gươl vừa là nơi văn hóa Cơ Tu được giới thiệu, thực hành, vừa mở thêm cơ hội để người dân có thu nhập từ những giá trị do chính cộng đồng gìn giữ. Khi những giá trị ấy tiếp tục hiện diện trong đời sống thường ngày, “hồn làng” vẫn được trao truyền giữa nhịp sống mới.