Đang có công việc ổn định với thu nhập hơn 20 triệu đồng/tháng ở TPHCM, Nguyễn Hồng Phong quyết định về quê khi giá lươn lao dốc, mày mò chế biến khô, chà bông để “giải cứu” đàn lươn của gia đình, nâng giá trị nông sản.
Bỏ phố về quê giữa lúc giá lươn lao dốc
Nguyễn Hồng Phong (29 tuổi, ngụ xã Phong Nẫm, TP Cần Thơ) là con út trong gia đình có 2 anh em. Cha mẹ anh làm nghề buôn bán nhỏ và nuôi lươn.
Sau khi tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh tại một trường đại học ở TPHCM, Phong học thêm văn bằng 2 ngành Quản trị kinh doanh. Anh có 11 năm học tập và làm việc tại TPHCM, từng làm việc ở phòng kinh doanh của một công ty vớithu nhập hơn 20 triệu đồng/tháng.
Công việc ổn định, thu nhập khá và nhiều cơ hội phát triển khiến Phong từng nghĩ sẽ gắn bó lâu dài với thành phố. Tuy nhiên, đầu năm 2026, về quê nghỉ Tết, chứng kiến gia đình và nhiều hộ nuôi lươn gặp khó vì giá giảm sâu, anh bắt đầu thay đổi suy nghĩ.
Nguyễn Hồng Phong bỏ công việc ổn định có thu nhập hơn 20 triệu đồng/tháng ở TPHCM để về quê "giải cứu" đàn lươn của gia đình
Gia đình Phong có 15 hồ nuôi lươn, sản lượng mỗi hồ khoảng 700kg-1 tấn. Gần nhất, chỉ 4 hồ đã thu được khoảng 3,2 tấn lươn. Bình quân mỗi năm, gia đình có thể xuất bán hơn 10 tấn.
Những năm trước, lươn thương phẩm thường có giá khá cao. Tuy nhiên, trước Tết 2026, giá giảm mạnh, có thời điểm chỉ còn khoảng 35.000 đồng/kg.
“Nuôi cả năm mới thu hoạch, nhưng tới lúc xuất bán thì lỗ nặng. Nếu không bán mà giữ lại nuôi thì càng lỗ vì chi phí thức ăn tăng từng ngày. Lươn càng lớn, thị trường lại càng khó tiêu thụ. Cha tôi và những hộ nuôi khác chỉ biết ngồi khóc vì lỗ quá”, Phong kể.
Trước thực tế đó, anh bắt đầu nghĩ cách để con lươn của gia đình không phải hoàn toàn phụ thuộc vào thương lái. Quyết định này của Phong được cha mẹ ủng hộ.
Bỏ hàng chục kg lươn để tìm cách làm khô
Phong nảy ra ý tưởng chế biến khô lươn. Không có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, anh tự tìm hiểu, thử nghiệm từ cách phơi nắng, chiên đến sấy bằng máy.
Mẻ đầu tiên, Phong làm khoảng 5kg lươn tươi. Sau khi phơi nắng, lượng thành phẩm còn khoảng 1,2kg khô nhưng không đạt yêu cầu. “Lươn phơi nắng bị đen, miếng khô cong lại và có mùi dầu. Con lươn nhiều mỡ nên nếu bên trong chưa khô kỹ sẽ còn mùi”, anh cho biết.
Phong chuyển sang phương pháp sấy. Đây cũng là giai đoạn anh tốn nhiều nguyên liệu và chi phí nhất.
Mỗi mẻ sấy khoảng 10kg lươn, nhiều lần thành phẩm phải bỏ vì chưa kiểm soát được nhiệt độ. Có mẻ quá khô, miếng lươn cứng đến mức không thể ăn được; có mẻ vẫn còn mùi hoặc không đạt chất lượng.
Tính tổng cộng, Phong phải bỏ khoảng vài chục kg lươn trong quá trình thử nghiệm. Mỗi lần sản xuất thử, anh còn phải thuê người làm nên chi phí tiếp tục phát sinh.
Lươn được nuôi trong những hồ của gia đình Phong, sau đó một phần được chế biến thành khô và chà bôngKhu vực nuôi lươn của gia đình Phong với 15 hồ
Theo Phong, khâu khó nhất không phải tẩm ướp mà là kiểm soát nhiệt độ và thời gian sấy. Anh từng mua máy đo độ ẩm để theo dõi thành phẩm. Tuy nhiên, khi cố đưa độ ẩm xuống quá thấp, miếng khô lại trở nên cứng, không phù hợp với khẩu vị người dùng.
“Về lý thuyết thì phải làm thật khô, nhưng thực tế khách hàng ăn được mới là điều quan trọng. Vì vậy, mình phải tự đúc kết kinh nghiệm, biết lúc nào cần giảm nhiệt, lúc nào tăng nhiệt, khi nào phải đảo bên trong lò”, Phong nói.
Những con lươn vàng, nguồn nguyên liệu để Phong chế biến khô và chà bông
Trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, Phong gần như không bán những mẻ khô đầu tiên. Anh mang cho người thân, bạn bè và những người xung quanh ăn thử để lấy ý kiến.
“Làm ra nhiều khô lươn để thử nghiệm thì mình đâu thể ăn hết. Phải cho nhiều người ăn thử. Khi nào thấy sản phẩm ổn, tôi mới nghĩ đến chuyện sản xuất nhiều”, anh kể.
Sau nhiều lần thử nghiệm, anh chọn sấy làm phương pháp sản xuất chính, vì lươn sấy giữ được màu vàng tự nhiên của thịt, miếng khô thẳng hơn và hạn chế mùi dầu.
Phong tẩm lươn với sả, ớt để tạo hương vị riêng. Khô sau khi sấy chỉ cần chiên nhanh mỗi mặt là có thể sử dụng, giữ được độ giòn, vị ngọt của thịt cùng mùi thơm của sả và vị cay nhẹ của ớt.
Đầu tháng 4/2026, Phong bắt đầu đưa khô lươn lên sàn thương mại điện tử. Những khách hàng đầu tiên chủ yếu là người dân trong xã và những người được giới thiệu.
Sau đó, những đánh giá tích cực trên sàn trở thành động lực để anh mở rộng sản xuất. Theo Phong, nhiều khách hàng không chỉ đánh giá tốt mà còn tiếp tục mua lại.
“Lúc đầu tôi chỉ nghĩ làm thử khô lươn 2-3 tháng. Nếu làm được thì để cha mẹ tiếp tục, còn mình quay lại TPHCM đi làm. Nhưng càng làm, tôi càng thấy mô hình có thể phát triển nên quyết định ở lại”, Phong chia sẻ.
Ngoài khô lươn, Phong làm thêm nước mắm me để dùng kèm sản phẩm. Mỗi gói khô lươn 250g được tặng một chai nước mắm me, giúp tăng hương vị và giảm cảm giác tanh đặc trưng của lươn.
Anh cũng phát triển sản phẩm chà bông lươn dành cho trẻ em và người lớn tuổi.
Hiện khô lươn được Phong bán khoảng 500.000 đồng/kg. Chà bông lươn có giá 95.000 đồng/hũ 100g, tương đương 950.000 đồng/kg.
Phong tận dụng kinh nghiệm kinh doanh, marketing để xây dựng thương hiệu khô lươn và chà bông từ nông sản gia đình
Trong tháng 8, Phong sử dụng khoảng 200kg lươn tươi để chế biến, cho ra khoảng 25-30kg khô và chà bông.
Sức mua tăng khiến cơ sở nhỏ của Phong có lúc không đủ hàng. Máy sấy hiện có công suất tối đa 16kg/lần, nhưng anh chỉ sấy khoảng 12kg nguyên liệu mỗi mẻ, cho ra hơn 3kg thành phẩm.
Có thời điểm, lượng khách đặt mua khoảng 6-7kg/ngày. Phong phải chuyển sang hình thức nhận đơn trước để chủ động sản xuất.
Về lợi nhuận, Phong cho biết chưa tính toán đầy đủ các khoản chi phí nên chưa xác định cụ thể số tiền lời. Tuy nhiên, điều anh tâm đắc nhất không chỉ là bán được sản phẩm mà gia đình đã chủ động hơn trong việc tiêu thụ lươn, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào thương lái.
“Trước đây, khi đến kỳ thu hoạch, gia đình buộc phải bán toàn bộ lươn cho thương lái. Nếu họ trả 35.000 đồng/kg thì người nuôi cũng phải chấp nhận, dù mức giá này thấp hơn nhiều so với chi phí sản xuất. Nuôi lươn muốn hòa vốn thì phải bán từ 50.000-55.000 đồng/kg”, Phong chia sẻ.
Khi chuyển sang làm khô, gia đình anh không còn phải bán toàn bộ lươn cùng lúc. Một phần được xuất bán, phần còn lại giữ lại để chế biến.
“Ít nhất mình chủ động được đầu ra và bảo đảm cha mẹ không bị lỗ. Nếu giá lươn tăng thì mình vẫn có thêm lợi nhuận, còn nếu giá giảm sâu thì mình không phải phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái”, Phong nói.
Nguyễn Hồng Phong, chàng trai bỏ việc lương cao ở TPHCM để về quê “giải cứu” đàn lươn của gia đình
Kinh nghiệm làm kinh doanh, marketing ở TPHCM cũng giúp Phong trong quá trình xây dựng sản phẩm. Anh tận dụng mạng xã hội để ghi lại quá trình từ nuôi, thu hoạch, sơ chế, sấy đến đóng gói.
Thay vì chỉ quảng cáo sản phẩm, Phong kể câu chuyện về người trẻ bỏ phố về quê, câu chuyện gia đình nuôi lươn và hành trình tìm đầu ra cho nông sản.
Hiện Phong đã định hướng xây dựng chuỗi sản phẩm từ lươn, anh đang hoàn thiện hồ sơ để đăng ký sản phẩm OCOP.
Phong cho biết, nếu khô và chà bông lươn được thị trường đón nhận, anh sẽ liên kết với các hộ nuôi lươn trong xã, qua đó góp phần tạo đầu ra ổn định và nâng giá trị cho con lươn địa phương.
Theo anh Nguyễn Văn Lợi, cán bộ Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Phong Nẫm, sản phẩm khô lươn của anh Phong đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Địa phương đang hỗ trợ cơ sở hoàn thiện hồ sơ đăng ký OCOP 3 sao, hướng tới xây dựng sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Lãnh đạo UBND xã Phong Nẫm đánh giá mô hình của anh Phong bước đầu giúp nâng giá trị con lươn, tạo thêm đầu ra cho người nuôi. Nếu phát triển hiệu quả, địa phương sẽ tạo điều kiện nhân rộng, giúp bà con có thêm hướng tiêu thụ.
Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam TP Cần Thơ đánh giá câu chuyện của Phong cho thấy người trẻ có thể khởi nghiệp từ chính thế mạnh quê hương. Hội khuyến khích thanh niên đổi mới cách làm, ứng dụng kỹ thuật, nâng giá trị sản phẩm và từng bước xây dựng thương hiệu để mở rộng thị trường.
Đang có công việc với thu nhập hơn 20 triệu đồng mỗi tháng, Đỗ Thị Xuân Diệu quyết định nghỉ việc, về quê nghiên cứu trái lêkima rụng đầy vườn. Sau 2 năm thử nghiệm, chị đưa sản phẩm lêkima sấy dẻo đạt OCOP 4 sao ra thị trường.
Không mất công xử lý ra hoa, chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật gần như bằng không, vườn bòn bon 5ha của anh Nguyễn Thanh Khâm cho thu hoạch khoảng 50 tấn trái mỗi năm, thương lái đến tận vườn thu mua vẫn không đủ bán.
Không chỉ sở hữu vườn cau vú bò quy mô 5ha được xem là lớn nhất miền Tây, ông Châu Quốc Hải còn đầu tư hàng tỷ đồng làm hạ tầng, biến mô hình trồng cau thành nguồn thu hơn 1 tỷ đồng mỗi năm.