W-Nghi lễ Xăng Khan của người Thái ở miền Tây Nghệ An.jpg
Nghi lễ Xăng Khan của người Thái ở miền tây Nghệ An. Ảnh: T.H

Những “báu vật sống” của văn hóa Thái

Dọc những triền núi miền tây Nghệ An, hình ảnh nhà sàn nép bên sườn đồi, tiếng khèn bè vang vọng trong đêm hội hay điệu lăm mềm mại vẫn hiện diện như dấu ấn riêng của cộng đồng người Thái.

Qua nhiều thế hệ, người Thái đã tạo dựng nên một nền văn hóa bản mường khá phát triển, lưu giữ hệ thống phong tục, lễ nghi, tri thức dân gian và nghệ thuật diễn xướng phong phú. Trong kho tàng ấy, đã có 4 loại hình văn hóa được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm: Lễ Xăng Khan, Lễ hội Đền Chín Gian, nghề dệt thổ cẩm và chữ viết Thái.

Trong đó, nghề dệt thổ cẩm được xem như “ngôn ngữ văn hóa” của phụ nữ Thái. Từ nhỏ, các bé gái đã được bà và mẹ dạy cách quay sợi, nhuộm màu, dệt vải, thêu hoa văn. Trên khung cửi mộc mạc dưới mái nhà sàn, từng sợi chỉ được đan cài thành những hình ảnh của núi rừng, chim muông, sông suối và quan niệm về vũ trụ.

Mỗi tấm thổ cẩm không chỉ là sản phẩm thủ công mà còn là nơi lưu giữ ký ức cộng đồng. Váy áo, khăn piêu, túi vải hay tấm đệm xuất hiện trong đời sống thường nhật, trong lễ cưới, mừng nhà mới hay các nghi lễ tâm linh.

Nếu thổ cẩm phản ánh vẻ đẹp đời sống vật chất thì Lễ Xăng Khan lại cho thấy chiều sâu tâm linh của người Thái. Đây là nghi lễ dân gian đặc sắc gắn với tín ngưỡng thờ tổ nghề mo và thế giới tâm linh bản mường.

W-Du khách tham quan và xem các sản phẩm dệt thổ cẩm của Hợp tác xã Làng nghề thổ cẩm Hoa Tiến, xã Châu Tiến - Ảnh: T.H.jpg
Du khách tham quan và xem các sản phẩm dệt thổ cẩm của Hợp tác xã Làng nghề thổ cẩm Hoa Tiến, xã Châu Tiến - Ảnh: T.H

Trung tâm nghi lễ là cây hoa thờ “xặng tàng”, cùng hệ thống đồ cúng, bài mo, tiếng cồng chiêng, điệu múa và diễn xướng dân gian. Trong mỗi lời mo là cả kho tàng sử thi, lịch sử khai bản lập mường, tri thức dân gian và quan niệm về vũ trụ của cộng đồng người Thái.

Bởi vậy, Lễ Xăng Khan không chỉ là một nghi lễ tín ngưỡng mà còn được ví như “bảo tàng sống” của văn hóa dân gian vùng cao.

Cùng với đó, Lễ hội Đền Chín Gian từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa tâm linh của cộng đồng người Thái miền tây Nghệ An.

Ngôi đền được dựng từ thế kỷ XIV trên đỉnh Pú Chò Nhàng, gắn với tín ngưỡng thờ trời, thờ thần linh và công lao khai mường lập đất của Tạo Ló Ỳ. Mỗi gian đền tượng trưng cho một mường cổ của người Thái xứ Nghệ.

Mỗi dịp tháng Hai âm lịch, đồng bào người Thái từ nhiều nơi lại trở về dâng lễ, tham gia trò chơi dân gian, hát múa, cồng chiêng và giao lưu văn hóa. Lễ hội không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng mà còn là ngày hội gắn kết cộng đồng của người Thái vùng Phủ Quỳ xưa.

Đặc biệt, việc chữ viết Thái ở Nghệ An được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đã mở ra dấu mốc quan trọng trong hành trình gìn giữ bản sắc dân tộc.

W-Nhảy sạp tại Lễ hội đền Chín Gian.jpg
Văn hóa dân gian được thể hiện rõ nét trong Lễ hội Đền Chín Gian - Ảnh: T.H

Với người Thái, chữ viết không đơn thuần là công cụ giao tiếp mà còn là nơi lưu giữ truyện cổ, sử thi, luật tục, dân ca và các bài mo cổ truyền. Việc bộ chữ Thái Lai Tay được mã hóa trong Unicode 17.0 năm 2025 tiếp tục mở ra cơ hội để di sản chữ viết của người Thái bước vào không gian số toàn cầu.

Những di sản ấy không tồn tại như các hiện vật nằm yên trong bảo tàng mà vẫn hiện diện trong đời sống thường ngày của cộng đồng. Đó cũng là điều tạo nên sức sống đặc biệt của văn hóa Thái nơi miền tây xứ Nghệ.

Giữ “căn cước văn hóa” giữa nhịp sống hiện đại

Bốn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được công nhận, không chỉ là niềm tự hào của riêng người Thái mà còn là “căn cước văn hóa” của miền Tây Nghệ An. Nhưng điều đáng lo là những giá trị văn hóa truyền thống của người Thái đang đứng trước nguy cơ mai một.

Nhiều nghệ nhân am hiểu lễ tục, biết dệt cổ truyền hay thông thạo chữ Thái đều đã cao tuổi. Trong khi đó, lớp trẻ chịu tác động mạnh của đô thị hóa, mạng xã hội và xu hướng dịch chuyển lao động.

Không ít phong tục, làn điệu dân ca hay kỹ thuật thủ công truyền thống đang dần ít người kế tục.

Ông Vi Khăm Mun ở bản Xiềng Líp, xã Yên Hòa là một trong những người nhiều năm tâm huyết với việc bảo tồn chữ Thái Lai Pao. Theo ông, việc truyền dạy chữ Thái không chỉ là dạy đọc, dạy viết mà còn là truyền lại cả kho tàng văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ.

W-Vi Khăm Mun.jpg
Ông Vi Khăm Mun đã dành nhiều năm nghiên cứu, biên soạn tài liệu dạy tiếng Thái Lai Pao - Ảnh: Đình Tuân

“Chữ Thái còn thì văn hóa Thái còn”, ông nói.

Tương tự, bà Sầm Thị Bích, Giám đốc Hợp tác xã Làng nghề thổ cẩm Hoa Tiến cho biết trước đây các sản phẩm như chăn, váy áo, khăn đều phải tự dệt. Nhưng khi kinh tế thị trường phát triển, hàng công nghiệp trở nên phong phú và rẻ hơn khiến nghề dệt thổ cẩm từng có giai đoạn mai một.

Những năm gần đây, nghề dệt thổ cẩm bắt đầu hồi sinh nhờ sự tham gia của nhiều người trẻ. Một trong những người tiên phong là chị Sầm Thị Tình, người đưa thương hiệu “Hoa Tien Brocade” ra Hà Nội và quảng bá sản phẩm qua thương mại điện tử, hội chợ, triển lãm văn hóa.

Thực tế cho thấy, việc bảo tồn di sản hiện nay không thể dừng ở việc ghi danh hay tôn vinh mà cần một chiến lược dài hơi.

Đó là mở rộng các lớp truyền dạy chữ Thái trong cộng đồng; hỗ trợ nghệ nhân truyền nghề; đưa văn hóa Thái vào trường học và du lịch cộng đồng; xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thổ cẩm; số hóa tư liệu văn hóa dân gian; tạo không gian để lớp trẻ tiếp cận văn hóa truyền thống bằng ngôn ngữ hiện đại.

Bởi di sản chỉ thực sự sống khi cộng đồng còn thực hành và còn nhu cầu sử dụng. Trong nhịp sống hiện đại, khi tiếng khung cửi vẫn vang dưới mái nhà sàn, khi những lớp học chữ Thái vẫn sáng đèn nơi bản nhỏ, khi điệu lăm còn ngân lên trong lễ hội, điều đó cũng đồng nghĩa với việc mạch nguồn văn hóa người Thái vẫn đang được tiếp nối.

Và hành trình giữ hồn văn hóa ấy sẽ còn cần rất nhiều bàn tay, nhiều thế hệ cùng chung sức để lớp trầm tích văn hóa nơi miền Tây xứ Nghệ tiếp tục bền vững cùng thời gian.