Đi qua chiến tranh, những người lính trở về đời thường nhưng vẫn giữ nguyên kỷ luật, sự bền bỉ và tinh thần kiên cường của bộ đội Cụ Hồ, trở thành điểm tựa vững chắc, tấm gương sáng cho con, cháu trong thời bình. Tuyến bài Người lính năm xưa trong cuộc sống hôm nay giới thiệu những câu chuyện tình yêu vợ chồng son sắt, nuôi dạy con hiếu thuận, lối sống vui - khỏe - có ích của những người cựu chiến binh đã bước sang tuổi U90, U100.
Bài 1: Người lính 30kg trở về từ chiến trường, đi bộ 10km tìm người thương
Ở tuổi gần bách niên, cụ Bình vẫn có đôi mắt sáng, trí nhớ tốt, rất thích được kể chuyện thời kháng chiến cho con, cháu nghe.
"Ba năm nay, bố tôi phải chạy thận ở bệnh viện, 3 buổi/tuần. Thế nhưng, bố rất lạc quan, ăn ngủ điều độ, thường xuyên cập nhật tin tức thời sự trong nước và quốc tế qua sách báo, truyền hình", ông Lê Thanh Hà (54 tuổi, con trai út cụ Bình) chia sẻ.



Trong căn phòng nhỏ, cụ Bình cất giữ rất nhiều tranh ảnh, sách báo về Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cụ nâng niu những cuốn album ảnh gia đình, ảnh chụp cùng đồng đội cũ, các cuộc hội ngộ của câu lạc bộ sỹ quan hưu trí - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an...

Một thời để nhớ
Cụ Lê Bình, sinh năm 1927 ở Nghệ An, trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước.
Theo chia sẻ, mùa thu năm 1945, chàng trai 18 tuổi Lê Bình tham gia giành chính quyền tại địa phương, hòa mình vào cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ.
Năm 1949, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, chàng thanh niên chia tay bố mẹ già, vợ trẻ và con thơ, xung phong tham gia Vệ quốc đoàn, chiến đấu chống Pháp. Cụ Lê Bình trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ ác liệt, cùng đồng đội căng mình suốt 56 ngày đêm trên mặt trận.
"Những ngày trong quân ngũ, tôi luôn ghi nhớ lời cha dặn: phải chiến đấu dũng cảm, kiên cường khi đối mặt với quân thù; dù gian khổ, thiếu thốn đến đâu cũng không được sờn lòng, nản chí; nhất là không rời bỏ đơn vị, đồng đội hay vị trí chiến đấu, dù trong hoàn cảnh thuận lợi hay gian nguy”, cụ Bình nhớ lại.
Suốt cuộc đời, cụ Bình vẫn luôn tự hào khi được là đội viên của Chi đội Đội Cung tên thuộc Trung đoàn 57, Sư đoàn 304 do Tướng Hoàng Minh Thảo là Sư đoàn trưởng. Năm 1954, quán triệt phương châm "đánh chắc, thắng chắc", toàn Trung đoàn 57 nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ mở đường xây dựng trận địa pháo binh, sở chỉ huy, hầm thương binh...
Khi ấy, chiến sĩ Lê Bình hoạt động trong tổ xạ thủ bắn tỉa, ngày đêm bám sát trận địa chiến hào. Lòng yêu nước và lời cha dặn dò, thôi thúc người lính trẻ chiến đấu quả cảm.

Ngày 9/10/1954, chiến sĩ Lê Bình nằm trong số các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam từ ngoại thành tiến vào tiếp quản Hà Nội.
"Dọc đường hành quân qua các xóm làng ngoại thành, bất chấp mưa to, đồng bào đủ mọi lứa tuổi vẫn tràn ra đông nghẹt hai bên đường reo mừng, vẫy tay chào đón, hoan hô bộ đội. Khi ấy không có nhiều cờ hoa, nhưng đầy ắp tiếng cười và những giọt nước mắt hạnh phúc", cụ Bình nhớ như in.
Năm 1955, chiến sĩ trẻ Lê Bình được giao trọng trách quan trọng: cử vào Trung đoàn 600 thuộc Bộ Tư lệnh cảnh vệ. Đây là đơn vị bảo vệ an ninh cho Phủ Chủ tịch, tham gia bảo vệ các cuộc mít tinh, đưa đón khách nước ngoài, các đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng, các điểm mà Bác Hồ đến làm việc... Những chiến sĩ cảnh vệ đều phải trải qua quá trình xét lý lịch rõ ràng, đảm bảo phẩm chất đạo đức, sức khỏe.

Cụ Lê Bình từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba năm 1963, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng thưởng Huy chương Chiến thắng Hạng Nhất năm 1958, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất năm 1985...



Người con hiếu thảo, người cha mẫu mực
Tuổi thơ của cụ Bình nhiều thiệt thòi khi mẹ mất sớm lúc cụ mới 5 tuổi. Sau này, cha cụ tái hôn với người vợ tên Nguyễn Thị Em. Người mẹ kế hiền hậu đã tận tụy chăm sóc, nuôi dạy hai anh em cụ Bình khôn lớn.
Năm 1963, khi mẹ kế tuổi cao, bị ngã gãy chân, sức khỏe suy yếu, cụ Bình quyết định xin ra ngoài làm công nhân cơ khí để đón mẹ từ Nghệ An ra Hà Nội tiện bề chăm sóc, phụng dưỡng. Còn bố cụ Bình tiếp tục sống ở quê, do con trai trưởng chăm sóc.
Hai người con trai của cụ Bình nhớ rất rõ: "Những năm cuối đời, bà nội tôi ngày càng già yếu, ốm đau triền miên, lại mắc bệnh thần kinh. Bố tôi hằng ngày đều tắm rửa, nấu ăn, chăm sóc bà chu đáo. Nhiều khi bà nói cười một mình. Có khi đêm hôm khuya khoắt, giá rét căm căm, cái lạnh giá buốt thấu xương, bà tỉnh giấc rồi đòi được cõng đi chơi, đi dạo... bố tôi vẫn vui vẻ chiều ý. Ai trong làng, trong xóm thấy cảnh ấy cũng nghẹn lòng".
Tấm lòng hiếu thảo cụ Bình dành cho mẹ kế khiến các con ngưỡng mộ.
"Bố tôi chưa bao giờ nói các con phải hiếu thảo, phải phụng dưỡng mẹ cha, nhưng những hành động của bố đã khiến 4 anh chị em tôi tự khắc học hỏi theo. Từ ngày bố phải đi chạy thận, 3 anh em tôi thay nhau đưa đón. Mỗi đêm, chúng tôi thay nhau ngủ cùng, trò chuyện và chăm sóc bố. Các con dâu, các cháu trong nhà đều kề cận phụng dưỡng", ông Hà chia sẻ.

Khi cụ Bình tham gia kháng chiến, người vợ đầu không may lâm bệnh nặng và qua đời sớm. Hai cụ có 1 cô con gái. Mãi đến năm 1965, cụ mới nguôi ngoai nỗi đau, đi thêm bước nữa với cụ bà Trần Thị Chánh (1937-2012, quê Hà Nam, nay là tỉnh Ninh Bình). Hai người có với nhau 3 người con trai.
"Bố tôi hiền lành, hết mực thương vợ con. Ngoài giờ làm ở nhà máy, bố còn đi bán kem, bán nước để kiếm thêm thu nhập cho con ăn học. Buổi tối, bố thường đọc những bài thơ của cụ nội, ông nội để lại, dạy chúng tôi về tình yêu quê hương, lòng hiếu thuận… Với vợ, bố luôn nhẹ nhàng, ân cần", ông Sơn - con trai thứ hai của cụ Bình, kể.
Sáu năm trước khi mất, cụ bà Chánh bị liệt, sức khỏe rất yếu. Cụ Bình ngày ngày túc trực bên cạnh chăm sóc vợ từng li từng tí.
"Bố tôi dầm nhuyễn từng thìa cơm, thổi từng thìa sữa để đút cho vợ. Mỗi hành động đều thể hiện tình yêu thương sâu sắc. Bố nói ít làm nhiều, lấy mình làm gương cho con cháu. Chúng tôi cứ vậy mà học theo bố, yêu thương, chăm sóc vợ con. Anh chị em dâu rể trong nhà luôn hòa thuận", ông Sơn tâm sự.

Với các con, cháu trong gia đình, cụ Lê Bình là tấm gương sáng về tình yêu quê hương, đất nước, lòng hiếu thuận với mẹ cha, nghĩa tình vợ chồng đằm thắm cùng lối sống nghiêm túc, giản dị.
Đối với đại tá Nguyễn Hữu Tài (97 tuổi, Hà Nội) – người từng có 47 năm hoạt động cách mạng ở khắp các chiến trường, khoảnh khắc non sông thu về một mối là ký ức sống động chẳng thể nào quên.
Mời quý độc giả đón đọc bài tiếp theo: Phút vỡ òa nghe tin toàn thắng và bữa cơm trưa khó quên trong đời đại tá U100
