![]() |
| Sử dụng thẻ ATM, đa số người dân Việt Nam dùng để rút tiền mặt. Ảnh: N.Đ |
Trao đổi với phóng viên Báo BĐVN xung quanh vấn đề đi tìm giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, bà Nguyễn Tú Anh – Tổng Giám đốc công ty Cổ phần dịch vụ thẻ Smartlink nhận định: Chính phủ cần đưa ra “bàn tay sắt”!
Từ góc độ của một doanh nghiệp chuyên cung cấp các giải pháp liên quan trực tiếp đến TTKDTM, theo bà, đâu là nguyên nhân khiến cho vấn đề này tại Việt Nam còn phát triển “ì ạch”?
Bên cạnh những rào cản như dịch vụ, tiện ích từ phía các ngân hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ TTKDTM còn không ít hạn chế, có thể khẳng định thói quen sử dụng tiền mặt ở mỗi cá nhân và tâm lý “ngại” minh bạch tài chính ở đối tượng doanh nghiệp đang là những rào cản lớn hiện nay đối với Việt Nam.
Ở góc độ các cá nhân, có lẽ gần 100% dân số Việt Nam đến nay vẫn sử dụng tiền mặt trong giao dịch hàng ngày do thói quen này đã ăn sâu vào tâm lý mỗi người lâu nay. Còn về phía các doanh nghiệp, phần lớn lâu nay họ vẫn luôn bằng mọi cách khai doanh thu giảm đi so với thực tế để thực hiện việc trốn thuế.
Chính vì thế, không quan tâm đến những lợi ích khi giao dịch qua ngân hàng (như giảm bớt chi phí trong quản lý tiền mặt, việc sử dụng vốn linh hoạt hơn, độ an toàn cao hơn…), các doanh nghiệp chỉ cần biết rằng nếu thực hiện TTKDTM qua ngân hàng thì sẽ đồng nghĩa với chuyện mọi nguồn thu của họ sẽ “bị” minh bạch. Do vậy, chắc chắn TTKDTM rất khó được đón nhận tại phần lớn doanh nghiệp.
Vậy theo bà, để “kích” lĩnh vực này phát triển hiệu quả, về cơ bản Việt Nam cần phải đi theo hướng nào?
Tôi cho rằng, vào những thời điểm cần tạo nền tảng cho sự phát triển như với TTKDTM, rất cần có sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ. Cụ thể hơn, ở đây tôi muốn nói đến một “bàn tay sắt” do Chính phủ đưa ra nhằm áp vào vấn đề TTKDTM tại Việt Nam. Kinh nghiệm tại các quốc gia phát triển TTKDTM trên thế giới cho thấy, khi có sự chỉ đạo quyết liệt, đúng mức của Chính phủ cũng như các cơ quan chức năng, các kênh giao dịch TTKDTM sẽ nhanh chóng tạo được bước chuyển biến hiệu quả.
Hàn Quốc là một ví dụ điển hình, hiện quốc gia này đang triển khai rất nhanh do Chính phủ thực hiện mạnh tay, bắt buộc các doanh nghiệp phải áp dụng TTKDTM, yêu cầu các doanh nghiệp bán lẻ khi đăng ký kinh doanh phải trang bị hệ thống, phương tiện hỗ trợ TTKDTM...
Tại Việt Nam, theo tôi, Chính phủ và các cơ quan khác như Bộ Tài chính cần nghiên cứu, đưa ra những quy định về hạn mức nhất định quy định người dân, doanh nghiệp không được phép dùng tiền mặt để thanh toán (ví dụ, từ mức 5 triệu trở lên), mà phải thông qua các phương tiện như thẻ, chuyển khoản.
Đồng thời, để các phương tiện thanh toán thuận tiện hơn cho người dân, thì các ngân hàng cần phải tạo được phương tiện hỗ trợ, kết nối TTKDTM thực sự tiện dụng. Tôi cho rằng, các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ hay các ngân hàng không chỉ đơn thuần biết hô hào người dân “hãy chấp nhận các phương tiện TTKDTM”, mà cần phải có trách nhiệm đưa ra các phương tiện, kênh thanh toán (như Mobile Banking, Internet Banking…) phù hợp, hữu dụng và xây dựng mạng lưới liên kết đồng bộ, rộng khắp, nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm tạo nhiều điều kiện tối đa cho mọi đối tượng sử dụng.
Tôi cho rằng, nếu không có sự kết hợp đồng bộ thì nỗ lực của các doanh nghiệp hay chỉ riêng các ngân hàng sẽ chỉ như hạt muối bỏ biển, và thực trạng TTKDTM tại Việt Nam sẽ còn khó phát triển.
Một thực tế rất rõ là các quốc gia như Hàn Quốc hay những nước khác có nền CNTT, thương mại điện tử phát triển hơn Việt Nam. Vậy nếu chúng ta áp dụng “bàn tay sắt” như họ, liệu phù hợp không?
Tôi nghĩ là phù hợp. Bởi lẽ bên cạnh việc áp dụng “bàn tay sắt” một cách mạnh mẽ như vậy, Chính phủ cũng cần xem xét để đưa ra những ưu đãi như cho phép doanh nghiệp khi áp dụng TTKDTM sẽ được hưởng một số thuận lợi hơn so với việc thanh toán dùng tiền mặt như được giảm một phần thuế thu nhập, một phần thuế VAT...
Với cách làm vừa bắt buộc, vừa khuyến khích như vậy, tôi cho rằng vấn đề TTKDTM tại Việt Nam chắc chắn sẽ đạt được những bước chuyển mạnh mẽ trong những năm sắp tới.
Hiện nay hầu hết các ngân hàng trong nước đều tung ra các dịch vụ hỗ trợ người dùng TTKDTM. Tuy nhiên, đáng lưu ý là thực trạng này cũng khiến cho người sử dụng dịch vụ lo ngại đến các vấn đề mất an toàn bảo mật…
Đúng như vậy, hiện hạ tầng CNTT, bảo mật trong từng giải pháp của các ngân hàng trong nước không đồng đều. Trong khi đó đáng lưu ý là tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác đang xuất hiện hiện tượng các đơn vị phát triển những phần mềm đã “bắt chước” quốc tế trong lĩnh vực Mobile Banking, Mobile Payment, Internet Banking, dù chưa được kiểm chứng trong thực tế đã đưa vào ứng dụng trong ngành ngân hàng. Thực trạng này rất đáng lo ngại và nguy hiểm trong giao dịch, bởi với một quy mô nhỏ thì những ứng dụng đó có thể đáp ứng được, nhưng nếu là đưa ra phổ biến rộng rãi, số lượng lớn thì điều đó lại quả thực mạo hiểm.
Như vậy, câu chuyện này đang đòi hỏi Nhà nước cần phải có những tiêu chuẩn về công nghệ, về hoạt động kinh doanh cho những đơn vị tham gia cung cấp giải pháp, phần mềm.
Theo bà, với thực trạng như hiện nay thì đến bao giờ giao dịch TTKDTM tại Việt Nam mới phát triển khả quan?
Thị trường thẻ nội địa Việt Nam đã bắt đầu triển khai từ năm 2002, nhưng đến nay đã 8 năm trôi qua nhưng vẫn chỉ dừng lại ở câu chuyện chủ yếu là dùng vào việc rút tiền từ ATM. Theo nhận định của tôi, thì năm 2010 và 1 - 2 năm tới đây Việt Nam cũng vẫn chỉ ở trong mức độ triển khai dần để mọi người làm quen. Và để các hình thức như Mobile Banking, Internet Banking thực sự đi vào cuộc sống, thì khả quan cũng phải là từ 3 - 5 năm, thậm chí cũng phải tới hàng chục năm nữa.
Cảm ơn bà!
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 65 ra ngày 31/5/2010.
