
Cha mẹ lặng lẽ cho đất con trai, các con gái không hay biết
Vợ chồng cụ Dương Tăng K. và cụ Tô Trường N. có 4 người con, gồm một con trai là ông Dương Tòng Đ. và ba con gái là bà Dương Tú M., bà Dương Tú P. và bà Dương Tú L.
Trong thời gian chung sống, hai cụ tạo lập căn nhà và quyền sử dụng thửa đất rộng hơn 419m2 tại TP Bạc Liêu do được thừa hưởng từ cha mình. Năm 2004, hai cụ lập hợp đồng tặng cho toàn bộ nhà, đất này cho người con trai là ông Đ. Việc tặng cho được công chứng nhưng 3 người con gái đều không biết.
Tuy nhiên, trong suốt thời gian cha mẹ còn sống, ông Đ. vẫn không thực hiện thủ tục đăng ký biến động đối với quyền sử dụng đất. Đến năm 2012, cả cụ K. và cụ N. lần lượt qua đời, tài sản vẫn đứng tên cha mẹ.
Năm 2022, bà M. mới biết hợp đồng nên khởi kiện vì cho rằng quyền thừa kế bị ảnh hưởng. Bà yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho giữa cha mẹ với anh trai, đồng thời đề nghị chia di sản thừa kế theo quy định.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M. rút một phần yêu cầu, chỉ đề nghị chia phần quyền sử dụng đất có diện tích thực tế 241,5m2 cùng căn nhà trên đất.
Trong khi đó, ông Đ. và vợ cho rằng hợp đồng tặng cho đã được công chứng hợp pháp từ năm 2004 nên có đầy đủ giá trị pháp lý. Vì vậy, ông không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của em gái.
Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M., đồng thời xác định hợp đồng tặng cho vẫn có hiệu lực nên không chấp nhận việc chia di sản thừa kế. Không đồng ý, bà M. kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M. tiếp tục rút yêu cầu chia căn nhà, chỉ đề nghị chia quyền sử dụng đất.
Hợp đồng tặng cho chưa có hiệu lực, đất vẫn phải chia thừa kế
Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM xác định nguồn gốc thửa đất là tài sản riêng của cụ K. được thừa hưởng từ cha mình, sau đó vợ chồng cụ K. sử dụng tiền bán một phần đất để xây dựng căn nhà trên diện tích còn lại, không phải tài sản của hộ gia đình như nguyên đơn từng nói.
Hội đồng xét xử cho rằng hai cụ hoàn toàn có quyền định đoạt tài sản của mình bằng việc lập hợp đồng tặng cho.
Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Luật Đất đai năm 2003, các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết, hợp đồng tặng cho bất động sản chỉ phát sinh hiệu lực sau khi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong vụ án này, dù hợp đồng đã được công chứng từ năm 2004 nhưng ông Đ. không thực hiện thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng đất. Ông Đ. giải thích việc chưa đăng ký là vì bận làm ăn và muốn cha mẹ tiếp tục đứng tên tài sản trong thời gian các cụ còn sống.
Theo Hội đồng xét xử, việc không sang tên hoàn toàn do ý chí chủ quan của ông Đ., không phải trở ngại khách quan.
Đến năm 2012, khi cả hai cụ qua đời, quyền thừa kế đối với khối tài sản đã phát sinh. Vì vậy, sau thời điểm này, ông Đ. không còn quyền tiếp tục hoàn tất thủ tục đăng ký để làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho.
Tòa cho rằng vụ việc này không thuộc trường hợp được án lệ điều chỉnh, nên việc công nhận hiệu lực hợp đồng trong trường hợp này là chưa phù hợp.
Do hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực nên quyền sử dụng đất vẫn thuộc khối di sản của hai cụ và phải được chia theo quy định pháp luật. Các cụ đều không lập di chúc nên di sản phải được chia cho 4 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Các bên thống nhất tính công sức quản lý, gìn giữ di sản của ông Đ. bằng một suất thừa kế. Tổng giá trị quyền sử dụng đất được định giá hơn 11,49 tỷ đồng và được chia thành 5 kỷ phần.
TAND Cấp cao tại TPHCM chấp nhận một phần kháng cáo của bà M., sửa bản án sơ thẩm; giao toàn bộ nhà, đất cho ông Đ. và vợ quản lý, sử dụng nhưng buộc thanh toán cho ba người em gái, mỗi người hơn 2,2 tỷ đồng tương ứng phần thừa kế được hưởng.
