![]() |
| Tính đến 2010 hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) bao gồm 6 ngân hàng thương mại nhà nước với 1.405 chi nhánh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần với 1.830 sở giao dịch, chi nhánh và văn phòng giao dịch |
“Còn thua nhiều nước trong khu vực”
Theo bà Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), tại Việt Nam hiện nay số máy ATM và số lượng tài khoản người dùng tại hệ thống ngân hàng đang tăng mạnh.
Tính đến hết năm 2010 số lượng thẻ ngân hàng các loại trên phạm vi cả nước đạt khoảng 28,5 triệu, gần 12.000 trạm ATM và gần 50.000 thiết bị chấp nhận thẻ (POS). Tuy nhiên, cho đến nay mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng của Việt Nam còn rất thấp.
Bà Thanh nhận định, nếu so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới thì mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng của Việt Nam còn rất hạn chế. Tính đến 2010 hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) bao gồm 6 ngân hàng thương mại nhà nước với 1.405 chi nhánh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần với 1.830 sở giao dịch, chi nhánh và văn phòng giao dịch.
Như vậy tỷ lệ chi nhánh, phòng giao dịch trên 100.000 người dân trung bình mới vào khoảng 3,72 - Con số này dù khá tương đồng với Philippine (khoảng xấp xỉ 4) nhưng vẫn thấp hơn Thái Lan và Indonesia...
Cùng đó, mức độ phân bố các chi nhánh và phòng giao dịch ở Việt Nam lại không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, đô thị, gây khó khăn khi truy cập thị trường tài chính ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân ở những vùng kinh tế mới nổi hoặc vùng sâu, vùng xa.
Theo một khảo sát gần đây của World Bank, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam tiếp cận tài chính khó khăn hơn so với các doanh nghiệp lớn (tương tự như Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan).
Vậy đâu là nguyên nhân khiến khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng ở Việt Nam vẫn còn hạn chế và thấp hơn nhiều so với các nước phát triển trong khu vực (chứ chưa so sánh với các nước có thu nhập cao ở OECD và các nước phát triển khác ở châu Âu)?
Bà Thanh cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này như thói quen sử dụng tiền mặt của người dân Việt Nam, mức độ dân số tập trung nhiều ở vùng nông thôn (trên 70%) trong khi đó mạng lưới ngân hàng lại tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, dịch vụ bán lẻ của hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển ở mức độ thấp (chỉ chiếm từ 6 - 12% doanh thu ngân hàng, trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này lên tới trên 50%), dịch vụ ngân hàng chưa thực sự đa dạng…
Chính vì thế, thực tế đó đặt ra yêu cầu với các TCTD trong việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng với nhiều giải pháp, trong đó CNTT sẽ đóng vai trò nòng cốt và việc đầu tư công nghệ phù hợp, tiên tiến như mở ra những kênh giao tiếp điện tử hiện đại giữa khách hàng và ngân hàng thương mại như ATM, POS, Home Banking, Phone Banking, Mobile banking, Internet Banking… cũng là hàng loạt nhân tố quyết định sự phát triển dịch vụ trong hoạt động ngân hàng cũng như mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
![]() |
| Về vấn đề nhân lực, các tổ chức cần xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ CNTT chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu quản trị vận hành và làm chủ các hệ thống công nghệ hiện đại. |
Giải pháp nào để cải thiện tình hình?
Hiện nay, CNTT chính là một nhân tố tạo dựng một nền móng vững chắc giúp các ngân hàng có thể trụ vững trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt thông qua việc cải thiện năng lực cạnh tranh, mở rộng khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tới khách hàng, từ đó tăng khả năng chiếm thị phần.
Chính vì vậy, để đạt được mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động của các tổ chức tín dụng hiệu quả, thì theo ý kiến của nhiều chuyên gia tại hội thảo Banking VietNam 2011 vừa được tổ chức tại Hà Nội, phía Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần tập trung đầu tư xây dựng một kho dữ liệu tập trung bao gồm các thông tin liên quan đến hoạt động của các TCTD, của các thị trường tiền tệ phục vụ cho quản lý điều hành của NHNN cũng như chiến lược phát triển CNTT của ngành; cần phát triển các chuẩn công nghệ áp dụng cho các hệ thống công nghệ của ngành nhằm nâng cao khả năng tích hợp và liên kết hệ thống, chia sẻ hạ tầng kỹ thuật và khai thức dịch vụ lẫn nhau giữa các TCTD…
Với riêng các TCTD, việc ứng dụng CNTT phải được thực hiện trên nền tảng công nghệ chuẩn, thường xuyên nâng cấp, cập nhật nhằm tăng cường tính an toàn, bảo mật của hệ thống song song với việc thiết lập một cơ chế dự phòng linh hoạt như tập trung xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất (với các phần mềm hỗ trợ hoạt động kinh doanh, quản lý), đảm bảo quy trình hoạt động xuyên suốt trong toàn hệ thống, xem xét triển khai hệ thống phần mềm hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning – ERP) nhằm nâng cao chất lượng quản trị và phục vụ việc ra quyết định của Ban điều hành, hoàn thiện hệ thống các phần mềm quản trị chuyên ngành khác (phần mềm Quản trị Quan hệ khách hàng CRM, phần mềm Quản trị rủi ro Risk Management…
Liên quan đến vấn đề nhân lực, các tổ chức cần xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ CNTT chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu quản trị vận hành và làm chủ các hệ thống công nghệ hiện đại. Trong đó tập trung đào tạo nâng cao trình độ, khảo sát công nghệ hiện đại trong nước và quốc tế, thực hiện các chế độ đãi ngộ hấp dẫn…
“Mỗi TCTD cần tập trung nguồn vốn, nhân lực và kỹ thuật để nghiên cứu hoặc thuê tư vấn quốc tế để xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên trong việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng công nghệ, mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ của mình”, bà Nguyễn Thị Kim Thanh nhấn mạnh.
Bài viết đã đăng trên báo Bưu điện Việt Nam số tháng 5 năm 2011

