CNTT trong đổi mới giáo dục đại học

ICTnews - Nên chăng, giáo dục đại học ở Việt Nam cũng cần nhìn vào thực tế đó để tận dụng chất xám của những nhà khoa học không bằng cấp.

Dưới đây là ý kiến của TS Lê Trường Tùng - Hiệu trưởng Đại học FPT.

Vì đâu có giáo dục đại học?

Nhân câu chuyện về Thomas Edison và Bill Gates, chúng ta thử đặt câu hỏi với tất cả những ai đã tốt nghiệp đại học đang đi làm hiện nay - nhất là những người thành đạt - xem khi ra nghề, để làm được việc thì họ sử dụng bao nhiêu phần trăm kiến thức được dạy trong trường đại học. Câu trả lời mà tôi nhận được thông thường là không nhiều lắm. Thực tế đó đã đặt câu hỏi về cách dạy và học của môi trường đại học. Tại sao Bill Gates bỏ học? Chính công việc và sự thành đạt của ông đã trả lời: ông không muốn mất thời gian học những gì mà ông cảm thấy chưa (hoặc không) cần thiết. Điều đó không có nghĩa là không cần học gì cả mà trái lại, Bill Gates đã tự học rất nhiều những gì mà trường đại học không dạy. Và đương nhiên, hình như các đại học cũng đang dạy nhiều thứ mà dường như người học không cần đến.

Khoảng cách ngày càng rõ giữa đào tạo đại học và nhu cầu doanh nghiệp đang buộc chúng ta phải suy nghĩ. Ngay cả với một nền giáo dục mà Việt Nam còn phải học tập như Singapore thì nhân khai giảng năm học 2006 – 2007, Thủ tướng Lý Hiển Long đã bày tỏ quan điểm là: trước những sự thay đổi rất nhanh chóng của thế giới, nền giáo dục Singapore phải xem lại cách thức hoạt động của mình để có thể đào tạo ra được những con người có khả năng tồn tại, phát triển trong môi trường luôn luôn thay đổi đó. Nhà trường phải cung cấp được những kỹ năng tự học, tự thích nghi chứ không phải là những kiến thức để sử dụng cả đời. Nếu không điều chỉnh kịp thì nhà trường sẽ dạy những kiến thức không cần và không dạy những kiến thức mà người học hết sức cần. Đó chính là thách thức với nền giáo dục của các nước phát triển, không riêng gì Singapore, và là thách thức rất lớn với giáo dục Việt Nam, nhất là trước thềm vào WTO – trong GATS, giáo dục  - có cả giáo dục đại học - được xem là một trong 12 mảng dịch vụ. 

Nhìn lại lịch sử của giáo dục đại học thế giới, mặc dù trường đại học thành lập từ thế kỷ XI (đại học Bologna thành lập năm 1088, đại học Oxford thành lập năm 1098), tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của các trường đại học chỉ xảy ra vào thế kỷ XVII - XVIII. So với cả lịch sử phát triển của nhân loại thì lịch sử của giáo dục đại học là quá ngắn và dường như nền giáo dục đại học hiện nay có thể xem là sản phẩm của cuộc cách mạng công nghiệp và mang nặng tính chất của xã hội công nghiệp. Xuất phát điểm, người làm y học cũng chỉ là thầy lang, lương y và vì sự phát triển của y học đòi hỏi phải bào chế thuốc, giải phẫu với các dụng cụ, thiết bị y tế kèm theo thì mới dẫn đến việc hình thành trường đại học y đào tạo bác sĩ. Và cũng vì những mối quan hệ phức tạp trong xã hội phải phân định thì mới cần đến luật sư, và dẫn đến việc hình thành trường đại học luật... Nền kinh tế công nghiệp đương nhiên phải cần đến kỹ sư công nghiệp làm hạt nhân để vận hành nó, cần các nhà bác học để phát minh ra các nguyên lý nền tảng cho các sản phẩm công nghiệp mới - và chính vì thế mà các đại học đã ra đời khắp nơi.

Nối tiếp của nền kinh tế công nghiệp chính là kinh tế tri thức, trong đó CNTT là hạt nhân. Khi đó, đào tạo nhân lực cho xã hội tri thức có những điểm khác biệt rất lớn so với đào tạo nhân lực cho xã hội công nghiệp, bởi thế trường đại học hướng tới nền kinh tế tri thức cũng khác so với các trường đại học truyền thống. 

Tác động của CNTT đến giáo dục

Như Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm từng nhìn nhận, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước 2 sức ép của hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của CNTT và truyền thông trong giáo dục. Vậy thì câu hỏi đặt ra là “CNTT ở đâu trong đổi mới giáo dục đại học Việt Nam?” và rõ ràng chúng ta phải trả lời cho câu hỏi này.

So với nhiều ngành học khác, CNTT là ngành ra đời sau nhưng lại có tác động đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đã trở thành một công cụ lao động mới. Riêng với giáo dục, tác động của CNTT là rất lớn với tất cả các ngành học từ tự nhiên đến xã hội. Tất cả mọi thông tin cần tra cứu đều có thể tìm thấy ít nhất qua các dịch vụ tìm kiếm trên Internet và qua các thư viện điện tử chuyên ngành. Nhờ vậy, người học hoàn toàn có thể tự học một cách thuận lợi hơn và với người dạy thì cách thức viết bảng, thày đọc trò chép đã trở nên lạc hậu. Học thuộc các kiến thức được dạy cũng là không cần thiết vì nếu muốn có thể tra cứu để tìm kiếm các thông tin đó quá dễ dàng, nhanh chóng. Và ngay cả có học thuộc thì cũng không để làm gì vì mọi tri thức luôn thay đổi và cập nhật liên tục.

Cũng nhờ sự phát triển của Internet mà giáo dục từ xa đã có những bước phát triển nhảy vọt trong những năm gần đây và người học hoàn toàn có thể theo học các chương trình đào tạo của những trường có khoảng cách địa lý rất xa. Có thể nói, CNTT đã làm đảo lộn cách thức dạy và học truyền thống. Như vậy, để CNTT trở nên hiệu quả hơn trong giáo dục thì bản thân ngành CNTT phải chủ động hợp tác với các lĩnh vực khác và bản thân các ngành khoa học cũng phải chủ động đón nhận, tiếp thu CNTT vì sự phát triển của chính mình.

Và mối quan hệ thầy - trò

Cuối cùng, vấn đề phải đề cập chính là mối quan hệ giữa thầy và trò, nhất là với môi trường giáo dục mà người học phải chi trả các phí tổn đào tạo. Thực chất, mối quan hệ của thày và trò ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với trước đây. Thầy là người hướng dẫn trò học (training) chứ không phải là người dạy (teaching). Sự tiếp thu kiến thức của trò cũng đã chuyển từ học tập (learning) sang nghiên cứu (studying). Một môn học cũng có thể có nhiều thày dạy và sự phát triển, trưởng thành của sinh viên là kết quả của cả một tổng thể chung chứ không phải là của riêng một ông thầy nào. Điều đó cũng giống như sản phẩm của một nền sản xuất công nghiệp thì không phải là của riêng một anh công nhân, kỹ sư nào cả.

Quan hệ thầy trò ngày nay không thể giống với cách học kiểu thầy đồ xưa kia “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” để thày nói thì đừng có cãi, mà sinh viên phải biết “cãi”, biết phản biện lại thày. Và chính đó mới là điều mà người thầy rất cần. Thầy đứng lớp là công việc, trò đi học cũng là công việc và ai cũng phải làm tốt việc của mình trong cả một quy trình chung - thứ mà chúng ta có thể tạm gọi là “công nghiệp giáo dục”...

Đức Hoàng

  • Báo Bưu điện Việt Nam cuối tháng 7/2007