
Chúng ta vừa chứng kiến nước Mỹ thiết lập một kỷ lục mới khi chính phủ liên bang đóng cửa trong 43 ngày (từ 01/10 đến 12/11/2025), xuất phát từ bế tắc giữa Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ tại Quốc hội về ngân sách chăm sóc sức khỏe.
Tuy nhiên, cần hiểu rằng, đó không phải là một nước Mỹ vô chính phủ hay tê liệt, mà là một nước Mỹ rất đặc biệt, nơi sự bất định của chính trị không kéo theo sự đình trệ hay rối loạn của toàn bộ hệ thống.
Nghịch lý này cũng hiện diện rõ trong chính sách khí hậu của Mỹ. Đó là, bên cạnh một nước Mỹ toan tính, thậm chí có lúc ngược dòng khi tham gia các định chế khí hậu toàn cầu, vẫn song song tồn tại một nước Mỹ “thứ hai” của những tập đoàn kinh tế lớn đang bền bỉ và chủ động đi đầu trong phát triển xanh.
Với bài viết này, chúng ta cùng thử đi sâu tìm hiểu nghịch lý đó.
Nước Mỹ của chính trị: Chần chừ và toan tính
Trong gần ba thập niên qua, kể từ năm 1997, chính sách khí hậu của Mỹ luôn đặt thế giới vào trạng thái thấp thỏm giữa kỳ vọng và hoài nghi. Kỳ vọng, bởi Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, trung tâm công nghệ và là một tác nhân có khả năng dẫn dắt tiến trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu. Hoài nghi, bởi cũng chính nước Mỹ ấy liên tục do dự, tính toán, thậm chí rút lui khỏi các hiệp định khí hậu quan trọng.
Ngày 27/1/2026, khi Tổng thống Donald Trump lần thứ hai tuyên bố rút Mỹ khỏi Hiệp định Khí hậu Paris, nhiều người coi đó là một bước lùi nghiêm trọng. Tuy nhiên, nhìn kỹ hơn, đây không phải là một cú bẻ lái bất ngờ, mà là sự tiếp nối và đẩy sự việc tới cực điểm của một cách tiếp cận đã hình thành từ lâu, một chính sách khí hậu “kiểu Mỹ”, và cụ thể hơn, “kiểu Donald Trump”.
Từ Kyoto: Khởi đầu của sự lưỡng lự
Để tìm hiểu lịch sử “thiếu gương mẫu” của Mỹ trong vấn đề khí hậu, chúng ta có thể lần ngược về Hội nghị Kyoto được tổ chức từ ngày 1 đến 11/12/1997 tại Tokyo. Hội nghị đã thông qua và công bố một văn bản lịch sử gọi là Nghị định thư Kyoto mà một trong những nội dung quan trọng nhất là yêu cầu 37 quốc gia công nghiệp phát triển phải cắt giảm trung bình 5% lượng khí nhà kính. Thế nhưng, đây cũng là dấu mốc bộc lộ rõ nhất sự toan tính của Washington.

Việc Mỹ cử Phó Tổng thống Al Gore làm trưởng đoàn từng tạo ra nhiều kỳ vọng, bởi vì ông là một trong những chính trị gia Mỹ rất bền bỉ trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu và cũng là người sau này (2007) được trao Giải Nobel Hòa bình vì những đóng góp xuất sắc cho môi trường. Sự hiện diện của Al Gore tạo cảm giác rằng Mỹ đã sẵn sàng đóng vai trò dẫn dắt trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu.
Tuy nhiên, đó chỉ là một động tác “làm đẹp mặt trận đối ngoại” của Hoa Kỳ. Trong khi Al Gore đứng ở tiền tuyến khí hậu, thì ở hậu phương, Thượng viện Mỹ, trước đó đã đóng chặt cánh cửa phê chuẩn bằng Nghị quyết Byrd-Hagel, do Thượng nghị sĩ Robert Byrd (Đảng Dân chủ) và Chuck Hagel (Đảng Cộng hòa) đồng đề xuất và đã được Thượng viện Mỹ thông qua ngày 25/7/1997 với tỷ lệ ủng hộ tuyệt đối (95–0).
Nghị quyết này tuyên bố Mỹ sẽ không phê chuẩn bất kỳ hiệp định khí hậu nào nếu nó gây tổn hại cho nền kinh tế trong nước trong khi lại không có những ràng buộc tương xứng với các nền kinh tế đang phát thải lớn như Trung Quốc và Ấn Độ. Thật trớ trêu, người được cử đi đàm phán không có thẩm quyền ký, còn người có thẩm quyền ký thì biết rõ rằng chữ ký ấy sẽ không bao giờ vượt qua được rào cản chính trị trong nước.
Bởi vậy, việc Tổng thống Bill Clinton đến tận cuối năm 1998 mới ký Nghị định thư Kyoto mang nhiều ý nghĩa biểu tượng hơn là cam kết thực chất. Ngay từ Kyoto, một mô thức quen thuộc đã lộ diện, đó là, nước Mỹ sẵn sàng dẫn dắt bằng hình ảnh, nhưng lại dè dặt, thậm chí né tránh các ràng buộc pháp lý. Với sự cố này, nhiều quốc gia đã cho rằng Mỹ không còn “đáng mặt đàn anh” trong vai trò dẫn dắt chính sách khí hậu toàn cầu.
Đến Paris: Sự trở lại mong manh
Đến thời Tổng thống Barack Obama, Mỹ quay trở lại diễn đàn khí hậu quốc tế với việc tham gia Hiệp định khí hậu Paris 2015 (ảnh 2). Trước hết, chúng ta cần biết rằng, hiệp định khí hậu Paris là một thỏa thuận mang tính bước ngoặt và có thể được coi là “Bản hiến pháp xanh” vĩ đại của nhân loại trong thế kỷ 21.
Đây không đơn thuần là một bản ký kết ngoại giao, mà là lần đầu tiên trong lịch sử, tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu tại Paris, 195/197 quốc gia (trừ Syria và Nicaragua) cùng đồng lòng cam kết cố gắng giữ cho nhiệt độ của trái đất tăng không quá 2°C và nỗ lực giới hạn ở mức 1,5°C cho đến cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ tiền công nghiệp (1880). Tuy nhiên, để tránh sự phản đối tại Quốc hội, chính quyền Obama lựa chọn cách tiếp cận mềm, đó là coi Paris chỉ là một thỏa thuận hành pháp thay vì hiệp ước quốc tế với ràng buộc pháp lý. Cách làm này giúp Mỹ nhanh chóng tham gia, nhưng đồng thời khiến cam kết trở nên mong manh và dễ đảo ngược.

Donald Trump: Sự thoái lui dứt khoát
Khi tiếp quản Nhà Trắng lần thứ nhất (20/01/2017), ông Donald Trump không tiếp tục với xu hướng “mềm dẻo” của Barack Obama, mà đã đẩy nó lên mức quyết liệt là ký sắc lệnh rút Mỹ khỏi Hiệp định vào 01/6/2017. Việc rút Mỹ khỏi Hiệp định Paris hai lần trong hai nhiệm kỳ là sự khẳng định thẳng thừng rằng, chính quyền Donald Trump không chấp nhận các ràng buộc khí hậu đa phương.
Với tinh thần “nước Mỹ trên hết”, ngoài hiệp định khí hậu Paris, cho đến thời điểm này, Tổng thống Donald Trump đã thực hiện một cuộc thoái lui quy mô lớn khỏi hơn 60 tổ chức quốc tế, trong đó có những tổ chức quan trọng như UNESCO, USAID, hay đến Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Nếu ví thế giới này như một công trường, thì khi rút khỏi một số tổ chức Mỹ chỉ đơn giản giống như một cổ đông lớn rút hết vốn đầu tư và ngừng chi trả tiền lương cho người lao động. Nhưng, câu chuyện rút lui khỏi Hiệp định Khí hậu Paris lại mang một bản chất hoàn toàn khác, nghiêm trọng và có thể để lại hậu quả tai hại hơn nhiều. Trong trường hợp này, cộng đồng quốc tế không chỉ mất đi một nguồn lực hỗ trợ quan trọng, mà còn phải thích ứng với những tác động đáng kể từ sự thay đổi vai trò của một chủ thể lớn trong tiến trình hợp tác khí hậu toàn cầu.
Sự quay lưng của Mỹ không chỉ là một quan điểm chính trị, mà nó có thể là một kịch bản tồi tệ cho khí hậu. Theo các phân tích từ Tập đoàn Rhodium (Rhodium Group) và mô hình mô phỏng của tổ chức Tương tác khí hậu (Climate Interactive), một tổ chức nghiên cứu uy tín của Học viện công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology: MIT), việc Mỹ từ bỏ các cam kết tại Paris có thể tạo ra một hậu quả khôn lường.
Năm 2017, các chuyên gia của cơ quan này cho rằng, việc Tổng thống Donald Trump “thả cửa” cho nhiên liệu hóa thạch sẽ khiến bầu khí quyển phải nhận thêm khoảng 3 tỷ tấn CO2 tính đến năm 2030. Con số này tương đương sáu lần tổng phát thải của Việt Nam 2024 (khoảng 500 triệu tấn CO2)
Nước Mỹ của các tập đoàn kinh tế: Những giá trị bất hủ
Nếu chỉ nhìn vào nước Mỹ của chính trị với sự chần chừ và toan tính, chúng ta dường như đã bỏ lỡ nửa còn lại rất đẹp đẽ, sinh động của bức tranh, đó là một nước Mỹ “thứ hai”, nơi các doanh nghiệp đang dẫn dắt cuộc chơi xanh toàn cầu vì họ hiểu rằng đó là mệnh lệnh từ thị trường và cũng là bài toán sinh tồn của chính mình bất chấp những thay đổi nhân sự ở Nhà Trắng. Sau đây là một trong những con số biết nói:
Từ những người đi đầu về năng lượng sạch
Dù chính trường Washington có tranh cãi về than đá, nhiều bang của nước Mỹ vẫn đang bùng nổ năng lượng tái tạo nhờ một điều rất đơn giản là điện tái tạo rẻ hơn điện than và tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn. Sự tham gia với tỷ lệ lớn điện tái tạo đã khiến lưới điện của Mỹ thuộc loại xanh và sạch nhất thế giới. Theo dữ liệu từ IEA và Ember (tổ chức tư vấn năng lượng của Vương quốc Anh), hệ số phát thải lưới điện Hoa Kỳ năm 2024 chỉ là 0,384 kg CO2/kWh, sạch hơn mức trung bình toàn cầu (0,445 kg/kWh) và đặc biệt là bỏ xa một “đối thủ” hay bị đem ra so sánh là Trung Quốc với hệ số phát thải khoảng 0,530 kg CO2/kWh.
Dù phát triển năng lượng tái tạo của Trung Quốc là thần tốc và luôn ở mức lớn nhất thế giới, nhưng việc vẫn phụ thuộc nặng nề vào than đá khiến lưới điện của họ phát thải cao hơn Mỹ tới 38%. Lưới điện phát thải thấp chính là lợi thế cạnh tranh cốt lõi giúp các sản phẩm “Made in USA” thường được coi là xanh hơn vì có dấu chân carbon (Carbon Foot Print) thuộc loại thấp nhất thế giới. Nhân đây cũng xin tiết lộ rằng, hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2023 là 0,6592 kgCO2/kWh, nghĩa là cao hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới.
Nước Mỹ “thứ hai” cũng đã chứng minh rằng, hiệu quả chuyển đổi xanh đã thắng thế ngay tại Texas, nơi được coi là “thánh địa dầu mỏ” nhưng lại dẫn đầu về sản lượng điện gió và mặt trời.
Đến nguồn cảm hứng Tesla
Từ 2008, chỉ với Elon Musk, nước Mỹ “thứ hai” đã mở đường và dẫn dắt cuộc cách mạng về xe điện. Các sản phẩm xe điện của Tesla đã góp phần làm “thay đổi nhận thức” của chúng ta về ô tô. Đến bây giờ, dù Trung Quốc đã vượt Tesla về sản lượng, nhưng giới chuyên gia đều nhất trí cho rằng, nếu không có Tesla mở đường, chắc chắn sẽ không có những BYD, Wuling hay MG của ngày hôm nay. Trong trường hợp này, Tesla không chỉ bán xe, họ đã định nghĩa lại tư duy về một phương tiện giao thông xanh và thông minh.
Từ Microsoft với khát vọng xanh
Với sự có mặt ở mọi nơi trên trái đất, siêu tập đoàn Microsoft đang đóng vai trò như những “Bộ ngoại giao xanh” của chính nước Mỹ “thứ nhất”. Ngoài việc cam kết Net-Zero vào 2030, họ còn đang dẫn đầu thế giới về công nghệ hút carbon trực tiếp từ khí quyển (Direct Air Capture: DAR) để dự tính sẽ xóa sạch dấu chân carbon lịch sử của mình từ 4/4/1975, ngày mà Bill Gates và Paul Allen sáng lập ra tập đoàn khổng lồ này.
Đến một Apple thực sự tử tế với môi trường
Để đảm bảo các sản phẩm trong hệ sinh thái phải xanh, Apple bắt buộc hàng trăm nhà cung cấp toàn cầu phải chuyển sang năng lượng sạch nếu muốn có tên trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, nhìn vào báo cáo môi trường của chiếc điện thoại iPhone 16 (hình 3), ta sẽ thấy dòng chữ “Apple emission from ultility-purchased electricity 0 kg CO2” nghĩa là “lượng khí thải của Apple mua từ công ty điện lực là 0 kg CO2e”. Điều đó cũng có nghĩa là họ đã hoàn toàn sử dụng năng lượng tái tạo trong quá trình sản xuất ra sản phẩm tuyệt vời này.


Gần đây, một biểu tượng đầy kiêu hãnh như Apple cũng sẵn sàng “gạt bỏ cá tính” để chuyển sang chuẩn sạc USB-C. Hành động này không chỉ là sự tuân thủ logic của thị trường mà còn là trách nhiệm với nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chỉ bằng một thay đổi nhỏ này Apple đã giúp giảm thiểu hàng ngàn tấn rác thải điện tử, đồng thời giúp tiết kiệm hàng trăm triệu USD thông qua việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng và sản xuất toàn cầu.
Chúng ta còn có thể kể ra nhiều “gã khổng lồ” khác ở Hoa Kỳ đang đi đầu trong chính sách bảo vệ hành tinh xanh. Chính họ đang tạo ra một nước Mỹ “thứ hai” đầy trách nhiệm trước môi trường hoàn toàn khác biệt với sự toan tính thường thấy ở nghị trường Hoa Kỳ.
Lời kết cho Việt Nam: Hãy kiên định
Những biến động trong chính sách khí hậu của Hoa Kỳ phản ánh đặc trưng của một nền dân chủ lớn, nơi các quyết định dài hạn thường chịu tác động mạnh từ chu kỳ bầu cử và ưu tiên chính trị trong nước. Với Việt Nam, điều này cho thấy một thực tế quan trọng là, các cam kết và hỗ trợ quốc tế, dù cần thiết cũng luôn tiềm ẩn tính bất định và không thể thay thế cho năng lực chính sách và hành động nội tại.
Thực tiễn năm 2025 cho thấy, ngay cả khi phải đối mặt với các chính sách thuế khắc nghiệt từ Hoa Kỳ và nhiều bất định của môi trường quốc tế, Việt Nam vẫn có một năm tăng trưởng đáng ghi nhận. Trải nghiệm này là một minh chứng rõ ràng rằng, những cú sốc từ bên ngoài, dù lớn, cũng không thể làm chệch hướng con đường phát triển nếu quốc gia có đủ năng lực tự thân.
Trở lại câu chuyện môi trường. Việc kiên định với chuyển dịch năng lượng, chủ động triển khai ESG và kiên trì mục tiêu Net-Zero không chỉ là sự đáp ứng các yêu cầu của thời đại, mà là một lựa chọn chiến lược nhằm củng cố sức chống chịu dài hạn của nền kinh tế. Và nếu làm được như vậy, nếu đặt chính sách môi trường vào trung tâm chiến lược phát triển, Việt Nam hoàn toàn vững tin để hướng tới một tương lai phồn vinh và bền vững.
