LTS: Hợp Phì từng hoãn một tuyến metro để đặt cược vào nhà máy màn hình, bỏ hàng tỷ USD cứu một hãng xe điện và chấp nhận mất tiền khi đặt nhầm vào công nghệ plasma. Hai thập niên sau, thành phố nội địa ít tên tuổi ấy trở thành một trung tâm công nghệ của Trung Quốc. Điều đáng tìm hiểu không chỉ là Hợp Phì đã thắng những canh bạc nào, mà là vì sao một chính quyền địa phương có thể ra những quyết định như vậy. Tuần Việt Nam giới thiệu tuyến 4 bài về “Mô hình Hợp Phì”.

Xem lại kì 1: Thành phố phải giở bản đồ mới tìm ra và cú đặt cược gần 2,6 tỷ USD

NIO: vào lúc đáy

Việc Hợp Phì đầu tư vào NIO (một trong những hãng xe điện cao cấp Trung Quốc) cho thấy một phiên bản khác của “mô hình Hợp Phì”, không phải hợp tác để xây nhà máy và dựng hệ sinh thái như BOE (Tập đoàn công nghệ Trung Quốc sản xuất màn hình hiển thị), mà thành phố đầu tư vốn cổ phần đúng lúc một doanh nghiệp công nghệ tốt gặp khủng hoảng thanh khoản, đổi lại là việc đưa NIO China và hệ sinh thái sản xuất về Hợp Phì, rồi thoái vốn dần khi định giá tăng, và tiếp tục đầu tư trở lại khi cần.

NIO là một công ty xe ô tô điện thành lập năm 2014 tại Thượng Hải, đã IPO và niêm yết tại NYSE (New York, Mỹ) năm 2018. Công ty có công nghệ, thương hiệu xe điện cao cấp và đã đưa sản phẩm xe ES8 ra thị trường, nhưng mô hình trạm đổi pin và phân khúc xe cao cấp cần cực kỳ nhiều vốn.

NIO không có nhà máy mà từ 2016 hợp tác với JAC (Jianghuai Automobile), một doanh nghiệp ô tô nhà nước có trụ sở tại Hợp Phì, để sản xuất. Đến cuối 2019, NIO rơi vào khủng hoảng nguồn vốn, giá cổ phiếu từng rơi xuống gần 1 USD; công ty thua lỗ lớn và liên tiếp tìm kiếm vốn từ nhiều địa phương. Các cuộc thảo luận với Bắc Kinh, Hồ Châu và một số địa phương khác không thành. Hợp Phì bước vào đúng thời điểm này.

Ngày 29/4/2020, NIO ký thỏa thuận chính thức với nhóm nhà đầu tư chiến lược là các thực thể vốn nhà nước Hợp Phì, An Huy và trung ương, với nguồn chủ yếu từ các LGFV (phương tiện/công ty huy động tài chính của chính quyền địa phương) của Hợp Phì cam kết đầu tư khoảng 7 tỷ NDT (≈1,01 tỷ USD) vào NIO, đổi lại, nhận 24,1% sở hữu của NIO Trung Quốc, và với điều kiện là NIO chuyển trụ sở chính tại Trung Quốc, với các hoạt động R&D, sản xuất, bán hàng, dịch vụ, chuỗi cung cấp, và NIO Power,… về Hợp Phì.

NIO ra khi doanh nghiệp phục hồi

Ngay sau khi nguồn vốn mới giúp giải quyết vấn đề thanh khoản, cổ phiếu của NIO toàn cầu tại Mỹ tăng mạnh trở lại, giúp NIO mua lại cổ phần của NIO Trung Quốc từ các cổ đông chiến lược, và Hợp Phì cũng bắt đầu thoái vốn.

Chưa đầy hai năm, tỷ lệ sở hữu của nhóm nhà đầu tư nhà nước tại NIO Trung Quốc đã giảm từ 24,115% xuống còn 7,886%, chỉ riêng hai giao dịch mua lại năm 2021 đem lại 8 tỷ NDT (≈1,24 tỷ USD) tiền mặt từ việc bán cổ phần.

Năm 2024, khi NIO một lần nữa cần đến nguồn vốn, các thực thể tài chính nhà nước do Hợp Phì dẫn dắt lại quay lại, mua cổ phần trị giá 3,3 tỷ NDT (≈460 triệu USD). Đây là một bằng chứng cho thấy sự linh hoạt, không có công thức duy nhất của các công cụ tài chính mà chính quyền Hợp Phì đang sử dụng.

Nhưng thành quả của thành phố, tất nhiên không nằm ở việc đầu tư và thu lời từ khoản đầu tư đó, với việc “cứu” NIO năm 2020, Hợp Phì đã hợp tác với NIO xây dựng Xinqiao Smart Electric Vehicle Industrial Park – NeoPark. Khu công nghiệp xe điện mới diện tích 11,3km2 với vốn đầu tư giai đoạn đầu tiên khoảng 50 tỷ NDT (≈7,8 tỷ USD) trở thành trung tâm sản xuất thông minh, nghiên cứu phát triển và hệ sinh thái công nghiệp ô tô điện của thành phố. NIO hiện tại có 3 nhà máy tại Hợp Phì, và năm 2025, NIO đã giao hơn 300 nghìn xe cho khách hàng.

Trong thương vụ BOE, Hợp Phì dùng vốn và hạ tầng để đưa một dây chuyền công nghệ còn thiếu (cho chuỗi sản xuất TV) về thành phố. Còn trong thương vụ đầu tư vào NIO, Hợp Phì mua cổ phần một doanh nghiệp đã có công nghệ và thị trường nhưng cần vốn, vào đúng lúc định giá xuống thấp; đổi lại NIO China và năng lực sản xuất được chuyển đến vào Hợp Phì; khi NIO phục hồi, vốn nhà nước bán bớt phần lớn cổ phần; khi doanh nghiệp lại cần vốn năm 2024, các nhà đầu tư nhà nước lại tiếp tục đầu tư.
Trước thương vụ 2020, NIO đã sản xuất tại Hợp Phì nhờ JAC (một hãng sản xuất ô tô của Trung Quốc có trụ sở tại Hợp Phì) nhưng trụ sở và hoạt động chính không nằm ở đây; sáu năm sau, toàn bộ xe của hệ NIO được sản xuất tại ba cơ sở tại Hợp Phì.

Đó có lẽ là “lợi nhuận công nghiệp” quan trọng nhất của thương vụ, tách biệt với việc vốn nhà nước thực sự lời bao nhiêu tiền từ cổ phần.

Plasma: một khoản đầu tư thất bại

Tuy nhiên, giá trị của mô hình Hợp Phì còn nằm một trường hợp khác, diễn ra gần như cùng thời điểm với việc đầu tư vào BOE, cho thấy cách tiếp cận của Hợp Phì khi gặp rủi ro do đặt cược sai.

Ngay trong bước ngoặt quan trọng nhất của ngành màn hình, Hợp Phì đã đặt vốn vào cả LCD lẫn plasma, BOE trở thành một trong những khoản đầu tư công nghiệp thành công nhất của thành phố, còn Xinhao–Hitachi thất bại khi công nghệ plasma bị công nghệ LCD đào thải. Thành phố có khả năng chấp nhận nhiều lựa chọn công nghệ, sử dụng các cấu trúc đầu tư khác nhau, và khi một hướng đi không còn triển vọng, đã chuyển dần quyền sở hữu cho đối tác công nghiệp thay vì tiếp tục giữ dự án bằng mọi giá.

Năm 2009, thành phố đã tham gia vào một dự án sản xuất màn hình plasma, mà theo lời một cán bộ xúc tiến đầu tư của Tân Trạm sau này được dẫn trong một bài điều tra của Tân Hoa “Lúc đó cả ngành còn tranh luận LCD hay plasma; chúng tôi làm cả hai.”

Tháng 9/2008, Hợp Phì ký thỏa thuận với BOE về dây chuyền TFT-LCD Gen-6 tổng vốn đầu tư 17,5 tỷ NDT (≈2,5 tỷ USD), chưa đầy một năm sau, ngày 20/7/2009, Anhui Xinhao Plasma Display Devices Co., Ltd. ký thỏa thuận với Hitachi Plasma Display. Công ty nhà nước địa phương mua công nghệ và một dây chuyền sản xuất của Hitachi rồi chuyển nó về Hợp Phì. Xinhao vốn là công ty 100% thuộc sở hữu của Xincheng, một thực thể tài chính 100% vốn nhà nước, cũng là công ty đã đầu tư vốn vào BOE, nhưng trong khi dự án BOE thành công, thì dự án plasma hoàn toàn thất bại.

Lựa chọn đi bằng cả hai chân của thành phố trả giá bằng thất bại của Xinhao, nhưng công ty sở hữu cũng đã kịp thoái một phần vốn đầu tư. Năm 2011 Xinhao đi vào sản xuất, với mục tiêu cung cấp màn hình plasma cho đối tác vận hành chính dự án là Changhong - một công ty thuộc tỉnh Tứ Xuyên.

Nhưng đến 2013-2014 thị trường màn hình plasma suy giảm nhanh, với bước ngoặt vào tháng 3.2014, khi Panasonic – công ty lớn nhất và kiên trì nhất với công nghệ plasma - chấm dứt sản xuất màn hình plasma. Dù trước đó Xinhao đã kịp thoái một phần vốn, nhưng Hợp Phì cũng gánh chịu tổn thất lớn.

Thất bại của Hợp Phì trong thương vụ đầu tư cho công nghệ màn hình plasma không chỉ cho thấy tư duy linh hoạt khi “đi hai chân trong lúc thị trường chần chừ”, mà còn ở chỗ, không có ghi nhận công khai nào về việc có cán bộ nào bị “xử lý” vì thất bại của thương vụ đầu tư này.

Nhận biết sớm nguy cơ thất bại, Hợp Phì cũng đã kịp triển khai việc thoái vốn, và nhờ đó, đã hạn chế được thiệt hại của một rủi ro đầu tư. Một quyết định linh hoạt gần với cách tiếp cận của các nhà đầu tư tài chính tư nhân.

Sự xuất hiện của người khổng lồ mới CXMT

Sáng 27/7/2026, cổ phiếu Changxin Technology Group – công ty mẹ của CXMT (hãng sản xuất chip nhớ DRAM của Trung Quốc) bắt đầu giao dịch trên sàn STAR Market tại Thượng Hải với mã 688825. Giá IPO trước đó là 8,66 NDT một cổ phiếu (≈1,28 USD); giá mở cửa khoảng 49,50 NDT (≈7,33 USD) và đóng cửa quanh 49,01 NDT (≈7,26 USD), tăng xấp xỉ 466%.

CXMT_Trung Quoc.jpg
Ảnh: asia.nikkei.com

Với khoảng 66,88 tỷ cổ phiếu sau IPO, mức giá đóng cửa đưa giá trị vốn hóa của CXMT lên khoảng 3.278 tỷ NDT (≈486 tỷ USD) và trong những phiên kế tiếp, giá tiếp tục dao động ở vùng cao; Reuters Breakingviews ngày 4/8 xác định mức vốn hóa khoảng 3.670 tỷ NDT (≈544 tỷ USD).

CXMT trở thành công ty có giá trị vốn hoá lớn nhất Trung Quốc, và đợt IPO của công ty đã thu về 57,92 tỷ NDT (khoảng 8,6 tỷ USD), một lượng tiền mặt gấp đôi mức dự kiến 29,5 tỷ NDT ban đầu, nguồn tiền mặt này giúp công ty có nguồn tài chính dồi dào cho việc mở rộng các nhà máy mới ở Hợp Phì và Bắc Kinh, và đầu tư vào R&D.

CXMT có nguồn gốc từ cuộc trao đổi ngày 6/5/2016 giữa Chu Nhất Minh – người sáng lập GigaDevice – và lãnh đạo Hợp Phì. Ngày tháng ấy trở thành tên gọi nội bộ “dự án 506”.

Chu Nhất Minh, người sáng lập GigaDevice đã mang đến Hợp Phì một bản đề xuất với số vốn đầu tư khổng lồ, các quỹ đầu tư của thành phố đã đầu tư khoảng 18 tỷ NDT (≈2,7 tỷ USD) trong giai đoạn đầu, và đổi lại có 80% cổ phần của CXMT.

Tỷ lệ sở hữu của Hợp Phì và các quỹ đầu tư nhà nước sau đó đã pha loãng dần khi quy mô CXMT tăng, và có thêm các nhà đầu tư mới. Nhưng Hợp Phì, qua các quỹ đầu tư của thành phố vẫn là bên chấp nhận rủi ro lớn nhất khi doanh nghiệp chưa tồn tại, nhà máy và sản phẩm còn chưa được xác lập.

Năm 2018, CXMT hoàn tất thử nghiệm đầu tiên; năm 2019 bắt đầu sản xuất thương mại, và đến năm 2025, Reuters ước tính thị phần toàn cầu của CXMT vào khoảng 7,7%; con số này vào đầu năm 2026 được AP dẫn là khoảng 9%. Đến 2025 CXMT mới bắt đầu có lãi, nhưng chỉ trong nửa đầu năm, đã xoá toàn bộ khoản lỗ luỹ kế, và đến 2026, công ty được niêm yết.

CXMT hiện đứng sau Samsung, SK Hynix và Micron – ba ông lớn nắm phần áp đảo của thị trường DRAM toàn cầu, nhưng công ty đã tạo ra năng lực DRAM quy mô lớn cho Trung Quốc, dù vẫn có khoảng cách về công nghệ tiến trình, hiệu suất sản xuất và đặc biệt là bộ nhớ băng thông cao HBM dành cho AI.

CXMT hiện có ba fab DRAM – hai tại Hợp Phì và một tại Bắc Kinh – với công suất khoảng 100.000 wafer mỗi tháng cho mỗi fab. Các kế hoạch đầu tư mới tại Hợp Phì, Bắc Kinh và Thượng Hải có thể nâng tổng năng lực tăng hơn gấp đôi vào năm sau.

CXMT là kết quả của một liên minh không dễ tái tạo, nhà nước chịu rủi ro vốn và hạ tầng; doanh nhân kỹ thuật tổ chức công nghệ và sản xuất; chính sách quốc gia tạo thị trường và nguồn lực; còn thị trường vốn cung cấp giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.

Chú thích: Những thông tin, số liệu trong bài được tác giả nghiên cứu, tham khảo và trích dẫn từ số lượng lớn các báo cáo, thống kê, bài báo... chính thống.