
Quốc hội sáng nay thảo luận ở hội trường về dự thảo Luật Phát triển đô thị. Một trong những vấn đề nhiều đại biểu quan tâm là các quy định về khu thương mại tự do.
Đại biểu Thích Đức Thiện (đoàn Điện Biên) cho rằng các quy định về khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp tại tỉnh chưa thống nhất về phạm vi điều chỉnh và thẩm quyền thực hiện.
Theo ông, khoản 4 Điều 63 dự thảo giao Chính phủ quy định tiêu chí, điều kiện thành lập, chấm dứt hoạt động, cơ chế, chính sách đặc thù, mô hình quản lý, giám sát, đánh giá đối với khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp "ở các tỉnh".

Quy định này cho thấy hai mô hình trên không chỉ được đặt ra tại các thành phố mà có thể được thành lập tại các tỉnh.
Tuy nhiên, Điều 20 hiện mới quy định thẩm quyền, trách nhiệm của HĐND thành phố và Chủ tịch UBND thành phố, chưa có quy định tương ứng đối với HĐND và Chủ tịch UBND tỉnh.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 1 về phạm vi điều chỉnh cũng chỉ nêu luật quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thành phố là đô thị loại đặc biệt, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt.
Đại biểu Thích Đức Thiện cho rằng, giữa các điều khoản này chưa bảo đảm thống nhất về phạm vi điều chỉnh và chủ thể thực hiện.
"Nếu Điều 63 đã xác định khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp được thành lập tại các tỉnh thì cần có quy định tương ứng tại Điều 1 để xác định rõ tỉnh thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật", ông nói.
Đại biểu đề nghị sửa Điều 1 theo hướng bổ sung "tỉnh" vào phạm vi điều chỉnh. Điều 20 cũng cần bổ sung thẩm quyền của HĐND và Chủ tịch UBND tỉnh trong thành lập, điều chỉnh, tổ chức quản lý và thực hiện cơ chế, chính sách đối với khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, tương ứng với thẩm quyền đang được thiết kế cho chính quyền thành phố.
Việc này nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho chính quyền tỉnh khi khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp được thành lập trên địa bàn, "tránh tình trạng luật đã mở rộng phạm vi áp dụng nhưng lại chưa xác định rõ chủ thể và thẩm quyền thực hiện ở cấp tỉnh".
Tranh luận về cơ chế cho đô thị lấn biển
Một nội dung khác nhận được nhiều ý kiến tại phiên thảo luận là cơ chế pháp lý đối với khu đô thị lấn biển.
Dẫn Nghị quyết 20 Hội nghị Trung ương 3, khóa 14 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đại biểu Nguyễn Duy Minh (đoàn Đà Nẵng) cho rằng lấn biển là một trong những phương thức khai thác không gian biển cần được thể chế hóa đồng bộ. Ông đề nghị rà soát, bổ sung nội dung lấn biển vào dự thảo Luật Phát triển đô thị.

Đại biểu Nguyễn Phương Thủy (Hà Nội) nhất trí với việc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để triển khai dự án khu đô thị lấn biển tại Đà Nẵng, song lưu ý đây là dự án có quy mô vốn đầu tư rất lớn, thời gian thực hiện và khai thác kéo dài, tác động sâu rộng tới môi trường, hệ sinh thái, cảnh quan và kinh tế - xã hội.
Theo bà Thủy, để thu hút nhà đầu tư chiến lược và triển khai dự án hiệu quả cần một hệ thống cơ chế đặc thù đồng bộ, cụ thể, có tầm nhìn và tính ổn định cao.
Nếu chỉ bổ sung một số quy định mang tính nguyên tắc vào Luật Phát triển đô thị sẽ khó giải quyết các yêu cầu đặc thù của loại hình dự án này. Ngược lại, nếu quy định đầy đủ, cụ thể thì có thể làm thay đổi đáng kể phạm vi, cấu trúc và tính ổn định của luật.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ chế đặc thù đối với khu đô thị lấn biển Đà Nẵng được thiết kế trong một luật hoặc nghị quyết riêng của Quốc hội.
Ở chiều khác, đại biểu Nguyễn Hải Long (Đà Nẵng) cho rằng những dự án khu đô thị lấn biển quy mô lớn cần một khung pháp lý vững chắc, ổn định. Trong tương lai, Việt Nam có thể có thêm nhiều khu đô thị lấn biển tương tự dự án Đà Nẵng đang xúc tiến.
Theo ông Long, quy định mang tính nguyên tắc ngay trong dự thảo Luật Phát triển đô thị sẽ tạo "cú hích pháp lý" cho các dự án khu đô thị lấn biển mà không làm thay đổi phạm vi, cấu trúc của luật.
|
Phân quyền mạnh nhưng không biến cơ chế phối hợp thành 'xin - cho' Trước đó, trong thảo luận ở tổ về luật này, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Hưng Yên) cho rằng, dự thảo đang trao quyền trực tiếp, mạnh và khá toàn diện cho TPHCM và các thành phố là đô thị đặc biệt. Trong đó, Điều 7 cho phép văn bản của thành phố trong một số trường hợp được quy định khác văn bản của cơ quan Trung ương; Điều 8 cho phép thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội. ![]() Bà Bình cơ bản đồng tình với cách tiếp cận này, bởi với đô thị có quy mô và vai trò đầu tàu như TPHCM, "nếu mọi vấn đề đều phải xin ý kiến theo quy trình chung thì rất khó tạo đột phá". Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần xác định rõ ranh giới giữa quyền tự quyết của thành phố với những vấn đề cần quản lý thống nhất ở tầm quốc gia. Theo bà, những vấn đề chỉ phát sinh trong địa giới thành phố, không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ của chủ thể bên ngoài và không tác động đến hệ thống được quản lý thống nhất trên phạm vi quốc gia thì nên giao thành phố chủ động quyết định và chịu trách nhiệm. Ngược lại, với vấn đề tác động trực tiếp liên tỉnh, liên vùng; làm phát sinh nghĩa vụ với cơ quan, tổ chức ngoài thành phố; hoặc làm thay đổi quy hoạch, mạng lưới, thị trường, hệ thống hạ tầng được quản lý thống nhất toàn quốc, đại biểu đề nghị phải đánh giá tác động và có cơ chế phối hợp bắt buộc với cơ quan Trung ương, địa phương liên quan trước khi quyết định. Theo bà Bình, Chính phủ nên quy định tiêu chí xác định những trường hợp này và trình tự phối hợp để "vừa kiểm soát được rủi ro vừa không biến cơ chế phân quyền thành thủ tục xin - cho". |

