
Trong bức tranh toàn cảnh của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Văn Giáo là điển hình cho sự dấn thân, một người đi đường xa không mệt mỏi dành trọn cuộc đời để bước đi, quan sát, hít thở cùng vận mệnh đất nước, ghi lại từng nhịp đập của thời đại bằng ngôn ngữ hội họa rực rỡ, tràn trề tính nhân văn. Dũng cảm bước đi trên những chông gai, thử thách của cuộc đời bằng một nụ cười lạc quan, coi sự cống hiến cho xã hội và đất nước là lẽ sống cao đẹp nhất, đó chính là kim chỉ nam xuyên suốt gần tám thập kỷ làm người và làm nghệ thuật của ông.

Từ một thanh niên yêu hội họa, sau 4 năm học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương - ông đã có một tác phẩm quan trọng Tam quan nội Văn Miếu (1939, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) - mở đầu cho một thời kỳ hoạt động nghệ thuật cực kỳ sôi nổi cho đến trước Cách mạng Tháng Tám sau đó trở thành một chiến sĩ thực thụ trên mặt trận văn hóa, một bậc thầy của chất liệu bột màu Việt Nam.
Nhìn vào hành trình sáng tạo đồ sộ của Văn Giáo, với hàng ngàn tác phẩm và trên một trăm cuộc triển lãm cá nhân suốt từ năm 1945 cho đến những năm cuối đời, người ta có thể choáng ngợp trước sự bền bỉ, dẻo dai của đôi bàn chân đã đi qua hầu khắp mọi nẻo đường đất nước, giá trị lớn nhất mà ông để lại chính là một đời sống nghệ thuật thuần khiết, một thế giới chuyên môn giàu bản sắc cùng những mối thâm tình sâu nặng với các văn nghệ sĩ, các vị lãnh đạo cùng đông đảo nhân dân lao động.

Ngay từ cuối những năm 1930, Văn Giáo đã xuất hiện trong đời sống mỹ thuật Hà Nội. Triển lãm cá nhân đầu tiên của ông tổ chức ngay tại ngôi nhà số 18 phố Lò Sũ không chỉ giới thiệu các tranh phong cảnh Hà Nội, Văn Miếu hay chân dung tự họa, mà còn cho thấy khát vọng khẳng định bản thân của người họa sĩ trẻ.
Đối với Văn Giáo, nghệ thuật không chỉ gắn với phong cảnh thiên nhiên mà còn gắn với đời sống dân tộc và không thể tách rời trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ. Chính vì vậy, khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến, ông gần như không do dự rời bỏ vị trí của một họa sĩ phong cảnh đang được biết đến để đi theo cách mạng.
Những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã để lại trong cuộc đời Văn Giáo một kỷ niệm đặc biệt mà không nhiều họa sĩ có được. Ông là một trong những người đầu tiên được trực tiếp vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bắc Bộ Phủ. Ông được đến vẽ Bác Hồ trong thời gian khoảng mười ngày. Trải nghiệm ấy không chỉ có ý nghĩa nghề nghiệp mà còn ảnh hưởng lâu dài đến toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông.

Từ đây, hình tượng Hồ Chí Minh trở thành một trong những mạch đề tài lớn kéo dài gần nửa thế kỷ, ít có họa sĩ nào theo đuổi hình tượng Bác Hồ bền bỉ như Văn Giáo và càng hiếm hơn khi quá trình ấy không dừng ở việc mô tả chân dung mà mở rộng sang tái hiện mối quan hệ của Bác với nhân dân, với quê hương, với từng vùng miền của đất nước. Năm 1970, nhân phòng tranh “25 năm theo Đảng”, triển lãm lần thứ 74 của ông kể từ Cách mạng Tháng Tám, Văn Giáo đề xuất một chương trình nghệ thuật chủ đạo “30 năm sáng tác về Bác Hồ từ năm 1970 đến năm 2000” hòa cùng mạch đề tài chung: “Hồ Chí Minh, chân dung một con người”.
Một điểm quan trọng đáng ghi nhớ trong sự nghiệp nghệ thuật của Văn Giáo, là dù đã trở thành họa sĩ sáng tác về cách mạng kháng chiến, về hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Văn Giáo vẫn không đánh mất con mắt của một người yêu phong cảnh.
Trong hầu hết các tác phẩm ở hai mảng đề tài lớn ấy, thiên nhiên vẫn hiện diện như một “nhân vật” quan trọng. Văn Giáo thường giữ cho tranh một hòa sắc sáng, trong trẻo và giàu hy vọng. Đó không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ mà còn phản ánh niềm tin lạc quan của người nghệ sĩ đối với tương lai của đất nước. Một trong những đóng góp quan trọng của Văn Giáo đối với hội họa Việt Nam hiện đại là khẳng định vị thế của tranh bột màu như một ngôn ngữ nghệ thuật độc lập. Từ những phong cảnh Hà Nội cuối những năm 1930, qua thời kỳ kháng chiến ở Liên khu V, Điện Biên Phủ, Vĩnh Linh, miền núi phía Bắc, đến những sáng tác về Hà Nội và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm cuối đời, bột màu luôn là phương tiện biểu đạt chủ yếu của ông.
Theo truyền thống hàn lâm châu Âu cũng như tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, bột màu thường được xem là chất liệu phục vụ ký họa, nghiên cứu hoặc phác thảo. Vì thế, sự lựa chọn bột màu của Văn Giáo không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật mà còn thể hiện một thái độ nghệ thuật. Ông không coi bột màu là chất liệu “bè thứ” hay là bước trung gian trước một tác phẩm lớn mà xem chính những bức tranh bột màu là tác phẩm hoàn chỉnh.

Nhiều tác phẩm tiêu biểu nhất của ông như Tam quan nội Văn Miếu (1939), Cẩm Phả mỏ (1955), Đền Voi Phục (1957), Đôi bờ Hiền Lương (1957), Hơ áo chiến sĩ (1962) đều được sáng tác bằng chất liệu này. Quan trọng hơn, Văn Giáo đã khai thác và mở rộng khả năng biểu đạt của bột màu. Đặc tính khó sửa chữa của chất liệu buộc người họa sĩ phải quyết định nhanh về cấu trúc mảng, sắc độ, hình nét, ánh sáng. Điều đó đòi hỏi khả năng quan sát trực tiếp và phản xạ thị giác chính xác.
Đặc biệt, Văn Giáo thường vẽ ngoài thiên nhiên, kể cả những bố cục có nhiều nhân vật, qua đó phát huy tối đa khả năng ứng tác vốn có của ông. Ông trực tiếp đối diện với cảnh vật, con người luôn luôn biến đổi với vô vàn sắc thái để ghi lại cảm xúc trong khoảnh khắc. Bột màu vì thế trở thành chất liệu của tốc độ, phản xạ và ký ức tức thời. Qua hàng nghìn tác phẩm, Văn Giáo đã chứng minh tính thể loại độc lập của bột màu, góp phần nâng cao vị thế của chất liệu này trong mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20.

Tác phẩm cuối cùng của Văn Giáo, Cây liễu bên nhà Bác, hoàn thành năm 1995, chỉ 1 năm trước khi ông qua đời. Sự lựa chọn ấy dường như mang ý nghĩa biểu tượng. Sau một hành trình dài đi qua chiến tranh, hòa bình, hòa bình xen lẫn chiến tranh bất chợt, công trường, nông trường, vùng mỏ, miền núi và đồng bằng, người họa sĩ khép lại sự nghiệp bằng một hình ảnh rất đỗi bình dị: một gốc liễu bên ngôi nhà sàn của Hồ Chí Minh. Chính bức tranh ấy như một lời kết nhẹ nhàng cho cả cuộc đời sáng tác của Văn Giáo, hội họa suy cho cùng là cách lưu giữ những điều giản dị nhưng bền vững nhất của con người và đất nước.
Ngày nay, khi nhìn lại di sản của Văn Giáo, điều khiến người xem ấn tượng không chỉ là số lượng đồ sộ của tác phẩm hay sự bền bỉ hiếm có của một đời cầm bút vẽ mà còn là tinh thần lao động nghệ thuật nhất quán. Ông đã dành gần 60 năm để đi, quan sát và vẽ; dành trọn niềm tin cho sức mạnh của ký họa, của tranh-ký họa, của thực tế đời sống và của chất liệu bột màu.
Trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 luôn vận động giữa nhiều khuynh hướng và biến động lịch sử, Văn Giáo chọn một con đường tưởng như lặng lẽ nhưng lại có sức bền đặc biệt, trở thành người ghi chép trung thành của đất nước bằng hội họa. Chính sự trung thành ấy đã tạo nên giá trị lâu dài của ông.
Văn Giáo không chỉ để lại những bức tranh đẹp mà còn để lại một quan niệm về người nghệ sĩ: Nghệ thuật chỉ thực sự có ý nghĩa khi được nuôi dưỡng từ đời sống, từ những chuyến đi không mệt mỏi và từ tình yêu bền bỉ đối với con người, quê hương và lịch sử dân tộc. Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của cố họa sĩ Văn Giáo (1916-1996), Triển lãm Đất nước mùa xuân được gia đình ông phối hợp tổ chức cùng Hội Mỹ thuật Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM như một sự ghi dấu toàn bộ sự nghiệp của ông với hội họa nước nhà.
Ngoài ra, gia đình sẽ hiến tặng 2 bức tranh Trên thao trường và Đón Bác Hồ ở đình Hồng Thái vào ngày khai mạc triển lãm và ra mắt cuốn sách mỹ thuật Văn Giáo.
Một số tác phẩm của hoạ sĩ Văn Giáo:




Ảnh: BTC
