
Dấu ấn trí thức dân tộc thiểu số trong các phong trào yêu nước, chống thực dân
Cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, với tinh thần yêu nước nồng nàn, đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao ở nhiều địa phương đã nhanh chóng tham gia vào các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh chống Pháp với nhiều hình thức, quy mô khác nhau.

Có thể thấy được hình bóng của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong các cuộc khởi nghĩa như: khởi nghĩa Yên Thế (do Hoàng Đình Kinh, Hoàng Hoa Thám lãnh đạo), khởi nghĩa Tiên Động (do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo), khởi nghĩa của Lã Xuân Oai, khởi nghĩa của Cầm Bá Thước, khởi nghĩa Hương Khê (do Phan Đình Phùng, Cao Thắng lãnh đạo), khởi nghĩa của Trần Cao Vân, Phan Lành…
Sự bùng phát của những cuộc khởi nghĩa này đã duy trì ngọn lửa yêu nước quật khởi của quốc gia dân tộc, để khi có điều kiện, được dẫn dắt bởi đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn lại bùng lên mãnh liệt, thiêu đốt kẻ thù, giành lại độc lập, tự do.
Đầu thế kỷ XX, luồng gió mới cách mạng vô sản được Nguyễn Ái Quốc truyền bá về trong nước đã làm cho phong trào cách mạng Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Trong trào lưu cách mạng vô sản ấy, cùng với các trí thức miền xuôi, trí thức cộng đồng các dân tộc thiểu số cũng đã được giác ngộ, trở thành những người tập hợp lực lượng, dẫn dắt cộng đồng các dân tộc thiểu số kề vai, sát cánh cùng đồng bào miền xuôi đứng lên tranh đấu, giành lấy độc lập, tự do.
Đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số có những điểm đặc thù. Trước hết, đó là số lượng không nhiều. Hai là, họ thường xuất thân trong những gia đình quan lại, chức sắc của đồng bào các dân tộc. Thứ ba là, họ thường ít được đào tạo bài bản so với trí thức miền xuôi. Tự đào tạo cũng là một trong những con đường hình thành đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số. Thực tiễn cũng cho thấy, không ít trí thức người dân tộc thiểu số thường được giác ngộ, đi theo cách mạng rồi được tổ chức cách mạng cử đi học tập để phục vụ cách mạng và trở thành trí thức, chính trị gia.

Góp sức cùng toàn dân tộc làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám
Trong giai đoạn 1930-1945, được sự giác ngộ, giáo dục và lãnh đạo của Đảng, nhiều trí thức dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển và thắng lợi của cách mạng, đặc biệt là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Đó là những trường hợp như Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn, Hoàng Văn Thụ, Lò Văn Giá, Lò Văn San, Hà Án, Cầm Minh, Nông Văn Dền, Chu Văn Tấn, Lương Văn Tri, Phùng Văn Khầu, Lô Quang Nam, Hoàng Văn Kiểu, Hà Tân Cương, Lê Quảng Ba, Lộc Văn Lùng, Dương Mạc Thạch…
Các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri đều là trí thức cách mạng người Tày của tỉnh Lạng Sơn, được đào tạo, trưởng thành trong quá tình hoạt động cách mạng và có công rất lớn đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Các ông là những người đã trực tiếp tham gia gây dựng cơ sơ, đào tạo cán bộ, xây dựng căn cứ địa, an toàn khu (ATK) của Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ, chuẩn bị các điều kiện cho thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám về sau.
Các đồng chí Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn cũng là những trí thức người Tày ở Cao Bằng. Các ông là những người đã tham gia tổ chức, lãnh đạo giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Cao Bằng.
Các ông Lò Văn San, Cầm (Văn) Minh, Lò Văn Sôn, Bế Nhật Huấn, Cầm Văn Dung, Bế Văn Điềm, Bạc Cầm Khang… đều là những cán bộ, trí thức cách mạng người Thái đã tham gia tổ chức, lãnh đạo giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Sơn La.
Trong số những đồng chí này thì ông Lò Văn San vốn là giáo viên dạy học ở tỉnh lỵ Sơn La đã giác ngộ cách mạng và tham gia khởi nghĩa thành chính quyền. Đồng chí Cầm Văn Minh từng là phán sự tòa sứ tỉnh Sơn La, được giác ngộ và tham gia Việt Minh. Ông được kết nạp vào tổ Việt Minh đầu tiên tại tỉnh lỵ Sơn La cùng với các đồng chí Bế Nhật Huấn, Chu Văn Thịnh.

Trí thức Tây Nguyên giác ngộ cách mạng
Ở Tây Nguyên, những khu vực xung quanh các nhà tù, trại giam của thực dân Pháp, đồng bào cũng sớm được các tù nhân trong Nhà đày Ban Mê Thuột, Nhà ngục Kon Tum giác ngộ, một số thành niên, trí thức đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã đi theo cách mạng. Nhiều trí thức Tây Nguyên thời kỳ đó như Y Ngông Niê KĐăm, Y Blốk Êban, Y Tlam Kbuôr, Ksor Ní, Nay Đe... đã sớm tiếp thu tư tưởng yêu nước và cách mạng, tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Đồng chí Y Ngông Niê KĐăm (1922-2001) là một bác sĩ, nhà giáo nhân dân và nhà chính trị ưu tú người dân tộc Ê Đê tại Đắk Lắk. Ông được giác ngộ cách mạng và tham gia giành chính quyền ở địa phương trong Cách mạng Tháng Tám.
Y Blốk Êban là một Thiếu tướng quân y đầu tiên của người Ê Đê tại Tây Nguyên, người tham gia giác ngộ và đi theo cách mạng từ sớm. Ông sinh năm 1921, sau khi học hết tiểu học, ông bị bắt đi lính khố xanh, rồi sau đó làm lính gác ngục tại Nhà đày Ban Mê Thuột, và được giác ngộ cách mạng. Ngày 22/8/1945, Y Blok chỉ huy tiểu đội lính khố xanh tham gia giành chính quyền tại thị xã Buôn Ma Thuột.
Đồng chí Ksor Ní là một trí thức người Gia Rai sớm tham gia hoạt động cách mạng. Ông dùng ngòi bút và trí tuệ để bảo vệ và tuyên truyền cho tinh thần đoàn kết của đồng bào. Ksor Ní sinh năm 1925 ở bôn Tham, xã Ia Trok, huyện Ia Pa (thời Pháp thuộc là quận Cheo Reo, tỉnh Pleiku), nay là xã Ia Pa, tỉnh Gia Lai. Tháng 6/1945, ông gặp gỡ Rơ Chăm Thép và được giới thiệu về Mặt trận Việt Minh, ông đã quyết định tham gia phong trào thanh niên, học sinh, viên chức ở Pleiku. Tháng 8/1945, sau khi đón đại diện Việt Minh về tiếp nhận chính quyền ở Pleiku, Ksor Ní và Nay Phin về quê tổ chức khởi nghĩa, giải phóng huyện lỵ Cheo Reo.
Giáo sư, bác sĩ, Thầy thuốc Ưu tú, Đại tá quân y Y Tlam Kbuôr (1925-2008), còn là Nguyễn Sỹ Lâm, là một trí thức lớn người Ê Đê, chiến sĩ cách mạng lão thành và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Tây Nguyên. Ông tham gia các phong trào đấu tranh từ năm 1939 và chính thức đi theo cách mạng từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
17 tuổi, Y Tlam được chọn đi học tại Trường Trung học phổ thông ở Quy Nhơn, sau đó là sinh viên Y khoa Trường Y khoa Đông Dương Sài Gòn. Tại đây, ông tham gia Tổ chức Thanh niên cứu quốc, Hội truyền bá Quốc ngữ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Vào những dịp nghỉ Tết, nghỉ hè, Y Tlam thường về nhà thương tỉnh Đắk Lắk (nay là Bệnh viện Đa khoa TP. Buôn Ma Thuột) thực tập, và được phân công đặc trách khám bệnh cho tù chính trị ở trạm xá nhà lao do Y Som làm y tá trưởng. Y Som là cơ sở cách mạng của ta.
Từ đó, Y TLam Kbuôr cùng những người bạn cùng trang lứa là Y Ngông Niê Kđăm, Y Nuê, Y Wang, Y Bih Aleo... tham gia tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong giới trí thức, công chức, công nhân lao động ở Buôn Ma Thuột, trong binh lính và đồng bào trong buôn làng, vừa tập hợp giáo dục quần chúng, vừa góp phần xóa nạn mù chữ. Năm 1945, ông hăng hái tham gia các hoạt động chuẩn bị tổng khởi nghĩa ở Buôn Ma Thuột…
Có thể thấy, sự phát triển của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói chung và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nói riêng có sự góp mặt của nhiều trí thức người dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương trong cả nước.
Với tư cách là trí thức, người có uy tín, họ đã đứng ra vận động, giác ngộ đồng bào mình, tập hợp lực lượng và tổ chức chớp thời cơ, giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giúp cho cuộc cách mạng này thành công triệt để hơn. Đồng thời, họ cũng là những người có vai trò cốt yếu tỏng việc xây dựng, gìn giữ và phát huy vai trò sức mạnh nội sinh đại đoàn kết dân tộc để bảo vệ chính quyền cách mạng, tiến hành kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau Cách mạng Tháng Tám.
