Đó là tâm sự của ông Lý Sáy Dờ, con trai út của ông Lý Nủ Chu, Đội trưởng Đội du kích Khau Phạ năm xưa.

Những chiến công của Đội du kích Khau Phạ
Chúng tôi tìm lên đỉnh đèo, về phía bản Trống Tông Khúa, xã Tú Lệ, nơi Đội du kích Khau Phạ được thành lập tháng 10/1946.
Theo lịch sử Đảng bộ huyện Mù Cang Chải (cũ), tiền thân của đội là một lực lượng vũ trang của đồng bào Mông được hình thành từ năm 1944. Sau Cách mạng Tháng Tám, lực lượng tiếp tục chiến đấu chống Quốc dân đảng và thực dân Pháp, bảo vệ vùng đất và chính quyền cách mạng còn non trẻ.
Ngày đầu thành lập, đội chỉ có 7 người. Vũ khí trong tay vẻn vẹn 3 khẩu súng kíp; còn lại là dao, cung, nỏ. Giàng Khua Kỷ - một thống lý trong vùng được giác ngộ cách mạng, trở thành đội trưởng đầu tiên. Sau ông là ông Giàng Sống Tu rồi đến ông Lý Nủ Chu.
Từ 7 người ban đầu, lực lượng dần phát triển. Trong những năm hoạt động, Đội du kích Khau Phạ đã chiến đấu 41 trận, gồm 16 trận độc lập và 25 trận phối hợp với bộ đội chủ lực; tiêu diệt, bắt sống và gọi hàng 125 địch, thu 150 khẩu súng cùng nhiều quân trang, quân dụng.
Đội sau này được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba; Lý Nủ Chu được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Nhưng câu chuyện về Đội du kích Khau Phạ không chỉ có những người trực tiếp cầm súng. Phía sau họ còn có những người dân mà phần lớn tên tuổi không được ghi lại.
Gần 8 thập kỷ sau, chúng tôi tìm gặp một người đang giữ những câu chuyện ấy. Ông là Lý Sáy Dờ, ở thôn Lìm Mông, xã Tú Lệ - con trai út của ông Lý Nủ Chu - Đội trưởng Đội du kích Khau Phạ năm xưa.

Ký ức Khau Phạ trong chuyện cha kể
Ông Dờ không trực tiếp sống trong những ngày cha mình cùng đồng đội hoạt động giữa núi rừng. Những gì ông biết đều qua lời kể của cha và những người đi trước. Phải nhiều năm sau, ông mới hiểu những câu chuyện ấy đã diễn ra trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến thế nào.
Một trong những chuyện ông còn nhớ là cơ duyên đưa cha của ông - Lý Nủ Chu đến với cách mạng.
Theo lời kể của ông Dờ, cha ông từng nhặt được súng trên đèo Khau Phạ. Ông không giữ lại mà tìm cách giao số vũ khí ấy cho cán bộ Việt Minh.
Từ cuộc gặp đó, người đàn ông Mông vốn quen với nương ruộng từng bước tham gia lực lượng cách mạng. Sau Giàng Khua Kỷ và Giàng Sống Tu, cha ông tiếp nối trở thành Đội trưởng Đội du kích Khau Phạ.
"Cha tôi kể, thời ấy đường rừng khó đi, ở trong rừng có lúc anh em rất thiếu ăn, thiếu mặc. Dân trong bản biết thì tìm cách đưa gạo, ngô vào. Khi ấy dân cũng đói chứ chẳng phải có nhiều, nhưng người đi đánh giặc là người của bản nên được bà con ưu tiên", ông nhớ lại.

Ông Dờ không còn nhớ được hết tên những người đã góp gạo, dẫn đường hay che chở du kích. Thời gian đã mang theo nhiều cái tên. Nhưng từ những gì cha kể, ông biết lực lượng của Lý Nủ Chu không chiến đấu một mình. Đằng sau họ là dân bản.
Ông Lý Nủ Chu đã mất. Ông Lý Sáy Dờ cũng đã ở tuổi xưa nay hiếm. Vì thế, những câu chuyện của cha trở thành thứ ông muốn kể lại cho lớp người sau để biết, trân trọng những gì mà thế hệ cha anh đi trước đã làm và cống hiến.

Chuyện về “những chiến binh mây mù”
Tôi hỏi ông Dờ: “Nếu được kể cho khách đến Khau Phạ hôm nay một câu chuyện, ông sẽ kể chuyện gì?”. Ông nghĩ một lát, rồi nói: “Tôi sẽ kể cho họ nghe về những chiến binh mây mù”.
Ông Dờ giải thích, ngày ấy cha ông và những người trong đội du kích phần lớn là người Mông sinh ra ở Khau Phạ. Họ đi trong mây, đánh giặc rồi lại rút vào núi.
Có những ngày thiếu lương thực. Có những lần bị truy lùng. Nhưng đội vẫn tồn tại, rồi từ vài người ban đầu phát triển thành một lực lượng chiến đấu trong suốt những năm kháng chiến.
“Người trẻ bây giờ đến Khau Phạ thường biết ruộng đẹp, núi đẹp. Tôi muốn họ biết ngày trước trên những ngọn núi này còn có những người đã cầm súng giữ bản. Trong số đó có cha tôi”, ông Dờ nói.

Từ nơi ở của ông Dờ nhìn ra, Khau Phạ hôm nay đã khác xa Khau Phạ trong câu chuyện của người cha.
Những lối mòn xuyên rừng năm xưa mà Lý Nủ Chu và đồng đội từng đi giữa mây mù giờ nối với đường lớn; những bản heo hút từng là nơi che chở cho du kích giờ được bao quanh bởi những lớp ruộng bậc thang trù phú.
Trên khoảng trời từng phủ mây che bước chân những người cầm súng, mỗi mùa lúa chín vàng lại xuất hiện những cánh dù lượn nhiều gam màu.
Dưới chân đèo, người Mông vẫn cày, cấy, dẫn nước,thu hoạch... chỉ khác, mỗi mùa lúa chín, cùng với người xuống đồng còn có những đoàn khách tìm vào bản.
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải ngày nay đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Những thửa ruộng trước kia được khai phá để làm ra hạt thóc nuôi dân bản, nuôi du kích nay còn tạo nên một cảnh quan thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
Cùng với ruộng bậc thang là nông sản, ẩm thực, văn hóa người Mông và những dịch vụ hình thành ở các bản.
Những người trong Đội du kích Khau Phạ năm ấy phần lớn đã không còn. Có người được lịch sử ghi tên. Cũng có những người mang gạo, dẫn đường, đưa tin... mà tên tuổi chỉ còn lại trong ký ức của một số gia đình. Nhưng những đóng góp của họ đã góp phần tạo nên cuộc sống bình yên để Khau Phạ có được diện mạo hôm nay.
