Không thể chỉ cạnh tranh bằng chi phí

Tại Diễn đàn Chiến lược và thương hiệu cạnh tranh diễn ra sáng 23/9, ông Lê Tùng, Giám đốc Chiến lược Tập đoàn Sunhouse, cho rằng lợi thế cạnh tranh về chi phí của Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam không còn như trước. Câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp sẽ cạnh tranh bằng gì trong 3-5 năm tới?

Theo ông, tại thị trường trong nước, doanh nghiệp có thể tận dụng chuỗi giá trị đã được xây dựng để phục vụ người tiêu dùng. Tuy nhiên, khi bước ra quốc tế, yêu cầu cao hơn rất nhiều. Doanh nghiệp phải xây dựng một chuỗi giá trị có sức cạnh tranh, từ nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất, chuỗi cung ứng đến thương hiệu và phân phối.

Nếu chỉ tập trung vào sản xuất, doanh nghiệp sẽ giữ lại phần giá trị tương đối thấp do biên lợi nhuận mỏng. Muốn nâng vị thế, doanh nghiệp phải từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao.

Ông cho hay, tại Sunhouse, doanh nghiệp đang tiếp cận theo hướng kết hợp nhiều mắt xích. Ở thị trường Việt Nam, doanh nghiệp hướng tới việc kiểm soát nhiều khâu trong chuỗi, từ nguyên vật liệu, sản xuất, cung ứng đến phân phối. Khi ra nước ngoài, doanh nghiệp lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt hơn, vừa phát triển thương hiệu tại các thị trường lân cận và Mỹ, vừa tiếp tục OEM (thuê đơn vị thứ ba sản xuất) cho các tập đoàn quốc tế, đồng thời nâng cấp năng lực R&D.

canh tranh.jpg
Đại diện doanh nghiệp cho rằng nếu so sánh với thế giới về công nghệ, dữ liệu thì Việt Nam có một khoảng cách rất lớn nên không thể lấy đó làm lợi thế cạnh tranh. Ảnh: BCSI

Một ví dụ được ông Lê Tùng đưa ra là chi phí sản xuất một sản phẩm cho đối tác Mỹ. Cách đây 5 năm, chi phí sản xuất một sản phẩm cho đối tác Mỹ khoảng 50 USD nay giảm còn khoảng 25 USD. Theo ông, việc tham gia vào thị trường quốc tế với những yêu cầu khắt khe giúp doanh nghiệp chịu sức ép cải tiến, từ đó nâng hiệu suất và năng suất sản xuất.

Điều này cho thấy cạnh tranh quốc tế không chỉ là câu chuyện bán được hàng, mà còn là quá trình doanh nghiệp “học” để nâng cấp chính mình.

Đổi mới sáng tạo phải tạo ra giá trị thị trường

Ông Lê Tùng cho rằng, một trong những yêu cầu quan trọng để nâng năng lực cạnh tranh là đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, đổi mới sáng tạo không chỉ nằm ở việc doanh nghiệp có bao nhiêu phòng R&D hay sở hữu bao nhiêu công nghệ. Cốt lõi là doanh nghiệp có thể ứng dụng công nghệ, dữ liệu và các kết quả nghiên cứu như thế nào để tạo ra sản phẩm, dịch vụ được thị trường chấp nhận.

Đối với doanh nghiệp sản xuất, đổi mới công nghệ phải góp phần nâng hiệu suất. Khi khoảng cách công nghệ giữa Việt Nam và các nước phát triển vẫn còn lớn, việc cố gắng cạnh tranh chỉ bằng công nghệ hiện đại nhất không phải lúc nào cũng khả thi. Vấn đề quan trọng hơn là tận dụng những công nghệ và dữ liệu đang có để ra quyết định và thích ứng nhanh hơn với sự thay đổi của thị trường.

PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Thương mại, thành viên Ban chuyên gia Chương trình Thương hiệu quốc gia, cho rằng doanh nghiệp cần nhìn đổi mới sáng tạo trên ít nhất 4 phương diện: sản phẩm, quy trình, tổ chức và công cụ, trong đó đặc biệt chú trọng các công cụ số. Bốn yếu tố này có mối liên hệ với nhau và nếu được triển khai đồng bộ sẽ góp phần tạo ra “quyền lực mềm” cho doanh nghiệp.

Ông lưu ý, trong bối cảnh AI đang rút ngắn đáng kể thời gian phát triển sản phẩm và hệ thống quản trị, yêu cầu đối với doanh nghiệp còn cao hơn. 

Trong khi đó, ông Chử Đức Hoàng, Chánh Văn phòng Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (Bộ KH-CN), cho rằng doanh nghiệp cần chuyển từ việc chỉ sử dụng công nghệ của người khác sang từng bước xây dựng công nghệ lõi và dữ liệu của riêng mình. Đây là điều kiện để doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt thay vì chỉ sao chép sản phẩm, mô hình hay giải pháp có sẵn.

Ba trụ cột tạo quyền lực mềm

Một sản phẩm tốt chưa đủ để tạo nên thương hiệu mạnh. Niềm tin của khách hàng còn được hình thành từ cách doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, khả năng đáp ứng linh hoạt, giao tiếp với khách hàng và thực hiện các cam kết.

Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh, thương hiệu, đổi mới sáng tạo và văn hóa là ba trụ cột quan trọng tạo dựng quyền lực mềm cho doanh nghiệp, tổ chức và ở phạm vi rộng hơn là một quốc gia.

Trong đó, văn hóa là nền tảng. Văn hóa doanh nghiệp không chỉ dừng ở những quy định nội bộ hay các giá trị được tuyên bố, mà quan trọng hơn là tạo ra môi trường nhân văn, khuyến khích sáng tạo và duy trì những giá trị đó qua các thế hệ người lao động.

“Quan trọng nhất, đích đến của việc tạo dựng văn hóa trong doanh nghiệp, địa phương và thậm chí một quốc gia là làm thế nào để tạo ra một môi trường làm việc nhân văn và đặc biệt là kích thích sáng tạo”, PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh nhấn mạnh.

Nếu ở cấp doanh nghiệp, thương hiệu, đổi mới sáng tạo và văn hóa tạo nên nền tảng của sức cạnh tranh, thì ở cấp quốc gia, những yếu tố này cần được chuyển hóa thành hình ảnh, uy tín và năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đối với thương hiệu quốc gia, từ năm 2003, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình Thương hiệu Quốc gia với đích đến là xây dựng hình ảnh Việt Nam. Theo định hướng, giai đoạn 2026-2030 sẽ tập trung đặt nền tảng và chuyển đổi căn bản, trong đó có hoàn thiện hệ thống tiêu chí Thương hiệu quốc gia, đẩy mạnh số hóa và xúc tiến thương mại trên các nền tảng toàn cầu. Giai đoạn 2030-2035 hướng tới hình thành đội ngũ doanh nghiệp có thương hiệu mạnh ở cấp khu vực và quốc tế.

Mục tiêu đến năm 2035 là có từ 5-10 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam lọt Top 500 thế giới, đồng thời đưa giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam vào Top 25 toàn cầu.

Theo ông Thịnh, giai đoạn đầu, Việt Nam lựa chọn cách tiếp cận dễ hơn là xây dựng Thương hiệu quốc gia dựa trên thương hiệu sản phẩm; dự kiến khoảng 10 năm sau tái định vị Việt Nam. “Nhưng rất tiếc là đã sang năm thứ 23, bây giờ chúng ta mới bàn đến chuyện định hình lại”, ông nói. 

PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh nhận định, thương hiệu quốc gia không đơn thuần là danh sách những thương hiệu doanh nghiệp tiêu biểu của một nước, mà còn là hình ảnh của chính quốc gia đó trong mắt thế giới. Một câu hỏi lớn đặt ra là: thế giới đang nhìn Việt Nam như thế nào và Việt Nam muốn được nhìn nhận như thế nào?

Theo ông, câu trả lời không thể chỉ đến từ các chiến dịch truyền thông. Những sản phẩm mang bản sắc riêng, nếu được đổi mới về thiết kế, chất lượng, câu chuyện và cách tiếp cận thị trường, có thể trở thành một phần của thương hiệu Việt Nam, qua đó giúp doanh nghiệp giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.