![]() |
| Hình 1: Mô hình đấu nối cáp tại những điểm không có tổng đài. |
Bất cập từ mạng lưới
Đối với VNPT Gia Lai, kinh doanh ở địa bàn cao nguyên, có nhiều vùng sâu vùng xa, giáp biên giới Campuchia, kinh tế xã hội còn nghèo nên việc phát triển dịch vụ VT – CNTT gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc đầu tư thiết bị, công nghệ còn hạn chế và có thể thấy thực trạng mạng lưới của VNPT Gia Lai còn tồn tại những bất cập cần thay đổi. Trước hết, có thể thấy rõ thiết kế, qui hoạch nút chuyển mạch, mạng lưới ngoại vi trước đây chủ yếu chỉ phục vụ cho dịch vụ điện thoại cố định.
Thời gian gần đây, dịch vụ băng rộng tại Gia Lai phát triển rất nhanh, trong khi đó thực trạng yêu cầu của kỹ thuật thuê bao băng rộng chỉ có thể phục vụ cho khu vực lắp đặt nút chuyển mạch, DSLAM (hầu như các DSLAM được triển khai tại các điểm đã được qui hoạch cho nút chuyển mạch trước đây) trong vùng bán kính khoảng 03km. Về tâm lý, qua khảo sát có thể thấy khách hàng muốn sử dụng chung cả hai dịch vụ băng rộng và dịch vụ truyền thống trên cùng một đôi dây sub. Trong khi đó, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) lại đưa ra các chính sách, chương trình khuyến mại để khuyến khích khách hàng sử dụng thuê bao băng rộng trên đường thoại có số.
Để thoả mãn nhu cầu khách hàng trong điều kiện trên, VNPT Gia Lai phải đầu tư mới hoàn toàn các thiết bị và nhà trạm. Như vậy sẽ mất rất nhiều chi phí và thời gian để triển khai. Hơn nữa, nếu đầu tư mới thì hiện tại năng lực thiết bị chuyển mạch ở Gia Lai lại chưa sử dụng tối đa, sẽ còn dư thừa nhiều và sẽ xảy ra tình trạng nơi thừa dung lượng thì nhu cầu khách hàng đã bão hòa, nơi có nhu cầu khách hàng thì không có thiết bị. Đây quả là bài toán khó đối với VNPT Gia Lai.
![]() |
| Hình 2: Mô hình lắp đặt thiết bị tại các nút triển khai truy nhập đa dịch vụ. |
Giải pháp tối ưu
Với những bất cập trên, việc phát triển thuê bao băng rộng tại các khu vực nằm cách xa các nút chuyển mạch truyền thống gặp rất nhiều khó khăn. Giải pháp của Tập đoàn là đầu tư các MSAN để tối ưu hóa mạng lưới ngoại vi cung cấp đa dịch vụ. Tuy nhiên, nếu triển khai theo hướng này thì chi phí đầu tư lớn, thời gian triển khai rất lâu (03 năm nay, VNPT Gia Lai chưa triển khai được điểm MSAN nào). Nghiên cứu thực tế của đơn vị, VNPT Gia Lai cũng đã đưa ra một giải pháp khác là thực hiện phối cáp tại các tủ cáp, hộp cáp (Xem hình 1).
Tuy nhiên giải pháp này chỉ là giải pháp mang tính tạm thời, không triệt để, việc đấu nối cáp phức tạp, khó quản lý và đặc biệt là tốn kém cáp.
Bằng việc thống kê năng lực thiết bị chuyển mạch và nghiên cứu tách thiết bị chuyển mạch, bên cạnh việc tận dụng các vỏ tủ thiết bị IP-DSLAM còn dư thừa, VNPT Gia Lai đã đưa ra giải pháp tổ chức các nút truy cập đa dịch vụ: thoại truyền thống + xDSL để đáp ứng nhu cầu phát triển thuê bao băng rộng, thoại truyền thống tại các Trung tâm Viễn thông trên địa bàn toàn tỉnh.
Theo anh Đồng Quốc Việt – Trưởng phòng Phòng Mạng dịch vụ của VNPT Gia Lai, đồng thời là người đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp trên cho biết: Với giải pháp tổ chức các nút truy cập đa dịch vụ sẽ có những ưu điểm như: tận dụng tối đa năng lực thiết bị chuyển mạch, vì nếu không sử dụng thì sẽ gây lãng phí khấu hao tài sản. Hơn nữa chi phí cho giải pháp thấp mà thời gian triển khai lại nhanh chóng. Đặc biệt, giải pháp này đã đem lại hiệu quả trong việc phát triển thuê bao băng rộng, thoại truyền thống.
Với giải pháp trên (Xem hình 2), việc lắp đặt thiết bị tại các nút triển khai truy nhập đa dịch vụ sẽ thống kê năng lực thiết bị chuyển mạch Ericsson trên toàn mạng lưới viễn thông. Sau đó là tách các Subrack tổng đài Ericsson 810, BYB 202: với tổng đài Ericsson thế hệ 810, chúng ta có thể tách nhỏ các Suabrack để tổ chức thành một tổng đài dung lượng khoảng 450 số. Tận dụng vỏ tủ thiết bị IP-DSLAM để bố trí thiết bị đa dịch vụ: Subrack tổng đài, IPDSLAM, rectifier, truyền dẫn. Với tổng dung lượng khoảng 1000 thuê bao thoại + 500 thuê bao xDSL, diện tích không gian chiếm dụng tương đối nhỏ, bố trí thiết bị gọn gàng, phù hợp với việc tổ chức các điểm truy nhập dịch vụ với dung lượng nhỏ đến vừa phải để đưa các dịch vụ về gần với khu vực phục vụ. Đặc biệt, giải pháp này rất phù hợp để triển khai tại các nhà trạm có sẵn là các điểm BĐVHX.
Sau thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, giải pháp trên đã được triển khai tại 10 trạm Viễn thông mới trên địa bàn các Trung tâm Viễn thông của VNPT Gia Lai, trong đó có 7 trạm đưa vào hoạt động trong năm 2009 và đã đem lại kết quả cao trong việc tối ưu hóa mạng lưới, phát triển thuê bao băng rộng, thu hồi cáp, tận dụng phát triển mạng lưới, giảm chi phí đầu tư thêm cáp.
Trong giai đoạn kinh doanh có nhiều khó khăn, thách thức, giải pháp lắp đặt thiết bị tại các nút triển khai truy nhập đa dịch vụ của VNPT Gia Lai là một sáng tạo chứng minh rằng: trong bất cứ hoàn cảnh nào, sự say mê sáng tạo cũng luôn đem lại thành công. Hy vọng, giải pháp trên sẽ là kinh nghiệm đối với VNPT các tỉnh, thành khác áp dụng vào thực tiễn.
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 51, 52, 53 ra ngày 28/4/2010.

