Nguyên nhân sâu xa của tâm lý trọng nam là quan niệm ‘con trai là chỗ dựa khi cha mẹ về già’. Chính sách kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh vì thế không thể tách rời củng cố hệ thống an sinh xã hội, giảm sự phụ thuộc của người cao tuổi vào con cháu.
LỜI TÒA SOẠN
Bộ Y tế đang lấy ý kiến về Dự thảo Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035, với mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên trong 10 năm tới.
VietNamNet thực hiện tuyến bài Giải bài toán mất cân bằng giới tính khi sinh, phân tích những khoảng trống, thách thức và các vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong Dự thảo Đề án thông qua ý kiến phản biện của các chuyên gia.
Phản biện về dự thảo Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035 (dự thảo đề án) đang được Bộ Y tế lấy ý kiến, GS.TS Giang Thanh Long (giảng viên cao cấp, Đại học Kinh tế Quốc dân - Hà Nội), cho rằng dự thảo đã xác định đúng những nguyên nhân cốt lõi của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Tuy nhiên, mục tiêu đề ra chỉ có thể đạt được nếu các công cụ chính sách đủ mạnh để tác động vào những lý do sâu xa khiến nhiều gia đình vẫn cảm thấy “phải có con trai”.
Tốc độ cải thiện phải tăng gần gấp đôi
Theo GS Long, để đưa tỷ số giới tính khi sinh từ 110 xuống 106 trong 10 năm như mục tiêu của dự thảo đề án, bình quân mỗi năm Việt Nam phải giảm khoảng 0,4 điểm phần trăm. Trong khi đó, báo cáo tổng kết giai đoạn 2016-2025 cho thấy tốc độ giảm bình quân trong 10 năm trước chỉ đạt 0,22 điểm mỗi năm. Như vậy, để đạt mục tiêu mới, tốc độ cải thiện trong giai đoạn tới phải tăng gần gấp đôi so với thập kỷ vừa qua.
Bộ Y tế cho rằng đưa tỷ số này về mức cân bằng tự nhiên vào năm 2035 là “khả thi”, nhưng GS Long nhận định “Đây là thách thức lớn, đặc biệt khi các can thiệp truyền thông thường có hiệu quả giảm dần theo thời gian”.
Kinh nghiệm Hàn Quốc cũng cho thấy đưa tỷ số giới tính khi sinh trở về mức cân bằng là một quá trình dài và không thể dựa vào một biện pháp đơn lẻ. Từ mức khoảng 116 bé trai/100 bé gái, Hàn Quốc mất gần 20 năm để đưa tỷ số về gần mức cân bằng tự nhiên. Quan trọng hơn, quá trình này gắn với nhiều giải pháp đồng thời, từ kiểm soát việc xác định giới tính thai nhi, thay đổi các quy định có yếu tố bất bình đẳng đến các chiến dịch thay đổi nhận thức về giá trị của con gái như “Hãy yêu con gái của bạn”. Theo GS Long, đây là bài học cho thấy pháp luật phải đi cùng thay đổi văn hóa và những cải cách xã hội rộng hơn.
Một thách thức khác là sự phát triển nhanh của các công nghệ liên quan đến lựa chọn giới tính. Dự thảo đề án thừa nhận việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm ngày càng khó khăn khi hành vi tiết lộ giới tính thai nhi có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc ký hiệu, không để lại hồ sơ. Trong khi đó, các công nghệ như xét nghiệm máu từ rất sớm trong thai kỳ hay lựa chọn giới tính phôi thông qua IVF đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác quản lý.
GS Long dẫn kinh nghiệm quốc tế để cho rằng các biện pháp cấm đoán có hiệu quả hạn chế nếu nhu cầu phải có con trai vẫn tồn tại. Khi công nghệ ngày càng phát triển, hành vi lựa chọn giới tính có thể chuyển sang những hình thức kín đáo hơn, khó phát hiện và kiểm soát hơn.
Năm 2025, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam ở mức 110 bé trai/100 bé gái. Ảnh: Huế Nguyễn
Vì vậy, tăng cường giám sát tại các cơ sở y tế, đặc biệt khu vực tư nhân và nâng cao năng lực kiểm soát các công nghệ mới là cần thiết. Nhưng theo ông, kiểm soát nguồn cung thôi chưa đủ. Nếu nhu cầu vẫn còn, người dân vẫn có động cơ tìm kiếm những cách thức khác để đạt được cơ cấu con cái mong muốn.
Muốn giảm tâm lý trọng nam, phải giải bài toán an sinh tuổi già
Theo GS Long, một trong những nguyên nhân sâu xa của tâm lý trọng nam là quan niệm con trai là chỗ dựa khi cha mẹ về già. Dự thảo Đề án mới đề cập đến việc “nghiên cứu, đề xuất” các hình thức hỗ trợ an sinh xã hội cho người cao tuổi mà chưa có giải pháp cụ thể.
“Đây là một khoảng trống quan trọng”, ông nhận định và dẫn câu chuyện của Singapore. Việc dùng an sinh xã hội thay thế phụ thuộc gia đình, quốc gia này đã làm thay đổi căn cơ hành vi “thích con trai”. Tăng cường chế độ hưu trí, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn tại nhà và cộng đồng đã giảm bớt đáng kể gánh nặng cho các gia đình có người cao tuổi, giúp con, cháu họ không phải rời bỏ thị trường lao động hoặc cơ hội việc làm chỉ để chăm sóc ông bà, bố mẹ.
“Với hơn 15% tổng dân số từ 65 tuổi trở lên và tỷ lệ người cao tuổi sống một mình tăng gấp đôi so với 10 năm trước, đầu tư cho hệ thống an sinh xã hội ở Singapore đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người cao tuổi giảm phụ thuộc vào con cái, thay đổi tư duy rằng 'chỉ con trai mới là chỗ dựa tuổi già”, ông phân tích.
Với Việt Nam, theo GS Long, dự thảo cần có những bước đi cụ thể hơn nhằm giảm sự phụ thuộc của người cao tuổi vào con cái, như mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội cả về số người tham gia và mức độ thụ hưởng; tăng cường chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh và kiểm soát bệnh mạn tính; xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi và phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn bài bản.
Bên cạnh đó, GS Long cho rằng dự thảo đề án vẫn thiếu những công cụ kinh tế cụ thể, có tính hệ thống để tạo động lực thay đổi hành vi. Những giải pháp dừng ở mức “khuyến khích” sẽ khó tạo ra tác động đủ mạnh.
Theo ông, muốn giải quyết bền vững tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, không thể chỉ tập trung vào khâu cuối là ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi. Quan trọng hơn là từng bước làm giảm những lý do khiến một bộ phận gia đình vẫn cảm thấy cần phải có con trai.
Danh sách 15 tỉnh, thành có tỷ số giới tính khi sinh cao tập trung ở phía Bắc. Những địa phương này có nguy cơ cao thừa nam, thiếu nữ trong tương lai nếu mất cân bằng giới tính khi sinh không được kiểm soát.
Bộ Y tế ghi nhận báo cáo từ nhiều địa phương cho thấy áp lực từ gia đình, dòng họ và tâm lý “dự phòng rủi ro” khiến nhiều cặp vợ chồng có xu hướng lựa chọn giới tính thai nhi.