LTS: Hợp Phì từng hoãn một tuyến metro để đặt cược vào nhà máy màn hình, bỏ hàng tỷ USD cứu một hãng xe điện và chấp nhận mất tiền khi đặt nhầm vào công nghệ plasma. Hai thập niên sau, thành phố nội địa ít tên tuổi ấy trở thành một trung tâm công nghệ của Trung Quốc. Điều đáng tìm hiểu không chỉ là Hợp Phì đã thắng những canh bạc nào, mà là vì sao một chính quyền địa phương có thể ra những quyết định như vậy. Tuần Việt Nam giới thiệu tuyến 4 bài về “Mô hình Hợp Phì”.

Xem lại kì 1: Thành phố phải giở bản đồ mới tìm ra và cú đặt cược gần 2,6 tỷ USD

Xem lại kì 2: Cứu hãng xe điện, thất bại với plasma và tạo ra công ty bán dẫn

Xem lại kì 3: Hợp Phì đang đặt cược tiếp vào đâu?

Vai trò lãnh đạo và cơ chế thực thi

Không thể không ghi nhận tác động lâu dài của câu chuyện Hợp Phì nếu bỏ qua dấu mốc 2005 và những chiến lược và hành động của thành phố khi Tôn Kim Long làm Bí thư thành uỷ. Tuy nhiên, Tôn Kim Long chỉ làm bí thư Hợp Phì trong 6 năm và rời đi năm 2011. Nếu chỉ để lại các thành quả cụ thể nhìn thấy được, thì Hợp Phì sẽ không có những câu chuyện như NIO hay CXMT, iFlyTek hay phố lượng tử.

Vai trò của Tôn Kim Long chính là một cơ chế bắt đầu bằng thiết lập kỷ luật, và sự linh hoạt và hiệu quả của các công cụ tài chính địa phương. Theo thời gian, thành phố, cụ thể là các LGFV (Công ty tài chính địa phương) của Hợp Phì đã trưởng thành và trở thành những công cụ đầu tư tài chính hiệu quả, gắn với chiến lược công nghệ tạo thành phố và ưu tiên linh hoạt tại từng thời điểm.

Với mỗi nhà quản trị địa phương, cái quan trọng nhất để lại không phải chỉ là các dự án cụ thể, mà quan trọng hơn, là những công cụ thể chế trưởng thành tạo nên năng lực lâu dài cho chính địa phương đó.

CXMT_TTXVN.jpeg

Kỷ cương thực thi đi trước ưu đãi đầu tư

Thứ Hợp Phì đem đến cho BOE năm 2008 không phải là ưu đãi thuế. Chiến dịch phá dỡ xây dựng trái phép năm 2005 đã tạo ra một bằng chứng kiểm chứng được rằng chính quyền làm được điều đã tuyên bố, trong một khoảng thời gian đã cam kết, mà không gây ra xung đột. Với một nhà đầu tư công nghiệp phải chôn vốn mười năm, đó là thông tin có giá trị hơn bất kỳ ưu đãi nào.

Thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi, một công cụ mà mọi địa phương đều có và do đó không tạo khác biệt, các địa phương nên công bố và tự đo hai chỉ số, là thời gian thực tế từ chấp thuận chủ trương đầu tư đến bàn giao đất sạch, tính theo trung bình của các dự án đã thực hiện chứ không theo thời hạn quy định; và tỷ lệ cam kết hạ tầng kết nối được thực hiện đúng hạn. Hai con số này khó làm đẹp và vì thế mới có sức thuyết phục.

Vốn nhà nước địa phương chỉ có nghĩa khi là vốn mồi có đòn bẩy

Trong thương vụ BOE, phần thành phố trực tiếp bỏ ra chỉ chiếm một phần trong tổng vốn dự án, nhưng chính phần nhỏ đó quyết định việc phần còn lại, tạo nên tín dụng hợp vốn và vốn từ đợt phát hành riêng lẻ, có huy động được hay không. Vai trò của vốn nhà nước ở đây là bảo chứng, không phải cấp phát. Đây là điểm khác biệt khá căn bản so với cách hiểu thông thường về "đầu tư công cho khoa học công nghệ".

Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý hiện hành của Việt Nam về đầu tư công và về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp về cơ bản chưa được thiết kế đầy đủ cho việc ngân sách địa phương góp vốn cổ phần chịu rủi ro vào một doanh nghiệp chưa có sản phẩm. Đây là ràng buộc thể chế cứng, và các đề xuất bỏ qua điểm nghẽn này đều khó thực hiện. Để thử nghiệm, điểm khởi đầu không phải là lập quỹ mà là tạo nên cơ chế xác định rõ chủ thể pháp lý chịu rủi ro, có nguồn vốn tách khỏi ngân sách chi thường xuyên, và đánh giá hiệu quả theo danh mục thay vì theo từng dự án.

Cùng một công cụ tài chính, các định hướng khác nhau

Đây là điểm này thường bị bỏ qua nhưng có lẽ là điểm quan trọng nhất khi so sánh Hợp Phì với phần còn lại của Trung Quốc. Định chế tài chính địa phương kiểu LGFV không phải sáng tạo của Hợp Phì; đó là công cụ phổ biến ở hầu hết các địa phương Trung Quốc trong ba thập kỷ qua.

Nhưng ở phần lớn địa phương, LGFV được dùng chủ yếu cho đất đai, hạ tầng đô thị và bất động sản như thu gom và chuẩn bị quỹ đất, xây đường và khu đô thị, rồi dựa vào nguồn thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trả nợ. Mô hình đó vận hành được chừng nào giá đất còn tăng.

Quy mô của cách làm này lớn đến mức trở thành một rủi ro vĩ mô. IMF ước tính nợ của khối LGFV tăng từ khoảng 8,7 nghìn tỷ NDT, tương đương 13% GDP năm 2014 lên khoảng 60 nghìn tỷ NDT, tương đương 48% GDP, năm 2023, và đánh giá đây là rủi ro nghiêm trọng đối với ổn định tài chính.

Khi thị trường bất động sản đảo chiều, nền của mô hình sụp theo, thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các địa phương Trung Quốc giảm 13,2% năm 2023 và tiếp tục giảm 16% năm 2024. Khả năng sinh lời của khối này vốn đã rất thấp, theo tổng hợp dữ liệu khoảng bốn nghìn LGFV, chỉ khoảng 3% đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu từ 4% trở lên, khoảng 10% lỗ ròng, và tổng trợ cấp từ ngân sách lớn hơn tổng lợi nhuận của cả khối.

Hợp Phì dùng cùng một loại công cụ đó nhưng cho một mục đích khác. Từ giai đoạn 2005–2008, các LGFV của Hợp Phì là Kiến Đầu, Sản Đầu và Tinh Thái được định hướng vào đầu tư công nghiệp: mua cổ phần doanh nghiệp sản xuất, thu xếp tín dụng hợp vốn cho dây chuyền, xây khu công nghiệp phục vụ một chuỗi ngành cụ thể, và về sau là góp vốn vào quỹ đầu tư công nghệ. Đất đai và tài sản công vẫn được dùng làm tài sản đối ứng, nhưng là phương tiện chứ không phải mục tiêu.

Riêng Hợp Phì Kiến Đầu được ghi nhận đã tham gia các khoản đầu tư có tổng quy mô luỹ kế trên 300 tỷ NDT (≈40–45 tỷ USD tùy tỷ giá từng giai đoạn), đưa về BOE, NIO, Nexchip, Corning, Visionox, Ofilm, hình thành chuỗi hiển thị thế hệ mới quy mô trên 100 tỷ NDT và ngành thông tin điện tử vượt 200 tỷ NDT.

Phần còn lại của Trung Quốc gần đây cũng đã đi theo hướng này, và đi theo do sức ép chứ không phải là lựa chọn. Từ tháng 9/2023 đã có hơn 200 công ty đầu tư đô thị đổi tên thành công ty "đầu tư công nghiệp"; trong năm tháng đầu năm 2024, trong số hơn 400 doanh nghiệp nhà nước mới thành lập ở các địa phương có 75 doanh nghiệp mang tên hoặc ngành nghề gắn với đầu tư và phát triển công nghiệp. Nhưng đổi tên không đồng nghĩa với đổi năng lực.

Hợp Phì mất khoảng mười lăm năm để xây được đội ngũ thẩm định công nghệ, quan hệ với ngân hàng và kinh nghiệm cấu trúc vốn; một pháp nhân vừa đổi tên không có ngay được những thứ đó.

Đối với các địa phương Việt Nam, điều tham khảo không phải là công cụ LGFV, chúng ta không có công cụ tương đương và cũng không nên tìm cách tái tạo, vì chính công cụ này đang là nguồn rủi ro tài khóa lớn nhất của các địa phương Trung Quốc.

Điều tham khảo là các câu hỏi định hướng. Việt Nam đã có các doanh nghiệp nhà nước địa phương và các quỹ đầu tư phát triển địa phương; câu hỏi là chúng đang được giao việc gì. Nếu trọng tâm là hạ tầng và bất động sản, kết quả sẽ là hạ tầng và bất động sản. Khác biệt giữa Hợp Phì và phần lớn địa phương Trung Quốc không nằm ở công cụ, mà ở chỗ các LGFV đó được giao mục tiêu gì, được đánh giá bằng chỉ tiêu nào và tuyển người có chuyên môn ra sao. Đây là ba thứ nằm trong thẩm quyền của địa phương, và nhiều nội dung có thể thực hiện trong các khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Cũng cần có cảnh báo rằng chuyển trọng tâm sang công nghiệp không phải là một phép thay thế không rủi ro. Đầu tư công nghiệp công nghệ cao có rủi ro khác chứ không nhỏ hơn rủi ro bất động sản, và có thể mất nhiều thời gian hơn để lộ ra. Trường hợp dự án màn hình plasma cho thấy một khoản đầu tư công nghiệp có thể thua lỗ lớn trong vòng năm năm. Điều Hợp Phì làm được không phải là loại bỏ rủi ro mà là chọn loại rủi ro có khả năng để lại năng lực sản xuất ngay cả khi khoản đầu tư thất bại.

Cơ chế thoái vốn phải được thiết kế trước khi rót vốn

Phần có giá trị nhất trong thương vụ NIO không phải là thời điểm mua mà là thời điểm bán. Hợp Phì rót vốn khi định giá xuống đáy, đạt được mục tiêu là kéo trụ sở và năng lực sản xuất về thành phố, rồi bán phần lớn cổ phần khi thị giá phục hồi, và quay lại đầu tư khi doanh nghiệp cần vốn lần nữa. Vốn nhà nước ở đây vận hành như một công cụ có kiểm soát, không phải như một khoản sở hữu vĩnh viễn.

Với địa phương Việt Nam, phần khó không nằm ở việc chi tiền đầu tư mà còn ở việc bán ra. Ba câu hỏi phải được trả lời trước khi ký quyết định đầu tư, là ai có thẩm quyền quyết định bán, định giá lại phần vốn nhà nước theo phương pháp nào, và trách nhiệm thuộc về ai nếu bán xong mà giá tiếp tục tăng.

Nếu ba câu hỏi đó không được giải trước, mọi khoản đầu tư đều có xu hướng bị giữ vĩnh viễn, và một danh mục không bao giờ thoái được thì không phải là danh mục đầu tư.

Đúng sai thất bại phải thành văn bản, không phải thành thông lệ

Hợp Phì đặt cược đồng thời vào LCD và plasma. Một hướng mang lại thành công ngoài dự tính, hướng kia thất bại hoàn toàn. Điều đáng chú ý không phải là tỷ lệ thắng thua mà là việc thành phố vẫn tiếp tục ra được các quyết định đầu tư lớn sau đó, nghĩa là thất bại của dự án plasma không làm tê liệt hệ thống ra quyết định.

Đây là điểm nghẽn lớn nhất và cũng là điều khó chuyển giao nhất. Nếu không có một quy định miễn trừ trách nhiệm rõ ràng, có tiêu chí kiểm tra được, như  quy trình đúng, không tư lợi, đánh giá theo danh mục thay vì theo từng dự án, thì không cán bộ nào có thể ký một quyết định đầu tư có xác suất thất bại thực. Và một danh mục đầu tư công nghệ không có dự án nào thất bại là dấu hiệu của việc chọn quá an toàn, chứ không phải dấu hiệu của năng lực.

Tiền không thay được doanh nhân kỹ thuật

CXMT thành công vì có Chu Nhất Minh, chứ không vì 18 tỷ NDT. Hợp Phì có thể huy động được vốn, đất và hạ tầng, nhưng không thể dùng tiền thay thế hiểu biết về kiến trúc bộ nhớ, sản xuất wafer, chuỗi thiết bị và thị trường quốc tế. Ranh giới năng lực của vốn nhà nước nằm chính xác ở đó, và mô hình Hợp Phì được vận hành với ý thức rõ về ranh giới này.

Ở nhóm ngành mới, cùng một nguyên tắc xuất hiện dưới hình thức khác, gần như toàn bộ doanh nghiệp lượng tử của thành phố đều do các nhà khoa học của USTC (Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc) sáng lập, chứ không do một cơ quan nhà nước lập ra.

Bài học này cho thấy, trong bộ tiêu chí sàng lọc dự án công nghệ, trọng số cao nhất nên đặt vào đội ngũ sáng lập, từ kinh nghiệm vận hành thực tế trong đúng phân ngành đó, thành tích đã kiểm chứng được, và mức độ dấn thân cá nhân, chứ không phải quy mô vốn đăng ký hay diện tích đất xin thuê, vốn là hai chỉ số dễ đo nhất và cũng ít dự báo nhất.

Doanh nghiệp mỏ neo phải kéo được chuỗi, và chuỗi cũ phải nuôi được ngành mới

Giá trị lớn nhất mà BOE và NIO mang lại cho Hợp Phì không phải là cổ tức hay lãi từ kinh doanh vốn, mà là vài trăm doanh nghiệp phụ trợ định cư quanh chúng, cùng nguồn thu ngân sách dài hạn và thị trường lao động kỹ thuật mà mạng lưới đó tạo ra.

Nhưng điểm đáng tham khảo hơn nằm ở chu kỳ tiếp theo, chính vì đã có chuỗi pin, điện tử công suất và vật liệu nhẹ từ xe điện mà Hợp Phì mới có cơ sở để bước vào eVTOL (phương tiện bay điện cất, hạ cánh thẳng đứng), nơi khoảng 80% chuỗi cung ứng trùng với xe điện. Một cụm công nghiệp có giá trị không chỉ vì nó tạo ra sản phẩm hôm nay, mà còn vì nó quyết định ngành nào khả thi cho địa phương trong mười năm tới.

Ở đây sẽ xuất hiện một cảnh báo đáng quan tâm, chỉ tiêu "thu hút FDI theo vốn đăng ký" không đo được điều vừa nói và trên thực tế còn khuyến khích ngược. Nên có thêm một chỉ tiêu khác, rất quan trọng, là số nhà cung cấp cấp một và cấp hai đặt cơ sở sản xuất trong bán kính xác định sau ba năm; tỷ lệ nội địa hóa tính theo giá trị chứ không theo số lượng hạng mục; và số kỹ sư được tuyển dụng tại chỗ.

Điều phối hành chính phải gắn với dòng vốn

Cơ chế "trưởng chuỗi" không phải sáng tạo riêng của Hợp Phì, nhưng cách Hợp Phì dùng nó thì đáng chú ý, người phụ trách chuỗi ngành có thẩm quyền điều phối đồng thời sở ngành, khu công nghiệp và định chế đầu tư, tức là điều phối hành chính không tách rời khỏi dòng vốn.

Việt Nam đã có mô hình tổ công tác và ban chỉ đạo cho từng dự án lớn, nhưng các thiết chế này thường có thẩm quyền đối với thủ tục mà không có thẩm quyền đối với vốn. Kết quả là điều phối được tiến độ giấy tờ nhưng không điều phối được nguồn lực. Nếu lập cơ chế tương tự, người đứng đầu chuỗi cần đồng thời có tiếng nói trong quyết định phân bổ vốn đầu tư công cho hạ tầng phục vụ chính chuỗi đó.

Quy mô đặt cược phải nằm trong sức chịu đựng của địa phương

Hợp Phì năm 2008 dồn một phần rất lớn nguồn lực vào một dự án và hoãn cả tuyến tàu điện ngầm đầu tiên. Quyết định đó thành công, nhưng nó vẫn là một quyết định có xác suất thất bại cao, và điều cần nói thẳng là chúng ta đang chỉ nhìn vào những trường hợp thành công. Cùng thời kỳ, nhiều địa phương Trung Quốc đổ vốn lớn vào các dự án bán dẫn và thất bại hoàn toàn; làn sóng đổ vỡ giai đoạn 2019–2021, như trường hợp của Wuhan Hongxin được nhắc đến nhiều nhất, là phần khuất của cùng một mô hình.

Điều này cho thấy cần cân nhắc khi quy mô một khoản đặt cược vượt quá mức mà địa phương có thể chịu mất toàn bộ mà vẫn duy trì được chi thường xuyên và các nghĩa vụ đầu tư hạ tầng cơ bản. Đây là ngưỡng nên được tính ra bằng con số và ghi vào đề án, chứ không để phụ thuộc vào đánh giá chủ quan tại từng thời điểm.

Cần lưu ý thêm rằng ở giai đoạn công nghệ chưa xác định, chính Hợp Phì cũng đã chuyển từ đặt cược lớn sang nhiều khoản nhỏ qua hệ thống quỹ, đây là một điều chỉnh phù hợp hơn với năng lực tài khóa của phần lớn địa phương Việt Nam.

Những điều kiện không chuyển giao được

Khi tìm hiểu mô hình Hợp Phì, có lẽ cũng cần nói rõ ba điều kiện dưới đây, vì nếu bỏ qua chúng thì mọi so sánh với Hợp Phì đều dẫn đến kỳ vọng sai.

Thứ nhất, là quy mô thị trường nội địa. Trung Quốc là thị trường tiêu thụ DRAM lớn thế giới, đủ để một nhà sản xuất mới có đầu ra ngay cả khi chưa cạnh tranh được ở thị trường quốc tế. Việt Nam không có điều kiện này. Mọi dự án công nghệ quy mô lớn tại Việt Nam đều gần như phải cạnh tranh xuất khẩu ngay từ đầu, tức là không có giai đoạn được thị trường trong nước bảo trợ.

Thứ hai, là cấu trúc tài chính địa phương. Toàn bộ năng lực huy động vốn mà bài viết mô tả dựa trên khả năng chuyển hóa tín nhiệm chính quyền và tài sản công thành vốn dài hạn chi phí thấp thông qua các định chế tài chính địa phương và hệ thống ngân hàng quốc doanh. Cơ chế này không tồn tại ở Việt Nam dưới hình thức tương đương, và như đã nêu ở trên đây, chính nó cũng đang là nguồn rủi ro tài khóa lớn nhất của các địa phương Trung Quốc.

Thứ ba, lớp vốn quốc gia đi kèm. Các quỹ đầu tư cấp trung ương cho ngành bán dẫn, cùng các cơ sở khoa học lớn do trung ương đặt tại Hợp Phì, tạo ra một lớp nguồn lực thứ hai mà địa phương có thể dựa vào, khiến rủi ro thực tế mà thành phố gánh chịu nhỏ hơn con số danh nghĩa. Không có lớp này, cùng một quyết định sẽ mang các rủi ro khác hẳn.

Thiếu ba điều kiện trên, cùng một cơ chế sẽ cho kết quả khác.

Những điều có thể rút ra từ các bài học Hợp Phì không phải là quy mô, mà là cách một chính quyền địa phương tổ chức việc ra quyết định, phân bổ rủi ro, và rút lui đúng lúc.

Chú thích: Những thông tin, số liệu trong bài được tác giả nghiên cứu, tham khảo và trích dẫn từ số lượng lớn các báo cáo, thống kê, bài báo... chính thống.