1.jpg.jpg
Máy tính và Internet đã không còn xa lạ với nhiều người dân.

Xin ông cho biết thành công lớn nhất mà dự án đạt được là gì?

Theo tôi, thành công lớn nhất chính là đưa được Internet, đưa được thông tin đến cho người dân, đúng như mục tiêu ban đầu mà Dự án đặt ra, và đúng với tên gọi “nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng”.

1.jpg.jpg
Ông Phan Hữu Phong

Dự án đã góp phần thay đổi nhận thức của người nông dân về máy tính và Internet ra sao, đặc biệt thời điểm trước và sau khi dự án diễn ra?

Số liệu khảo sát cho thấy, khoảng 70% người dân lần đầu tiên được tiếp xúc với máy tính và Internet là tại các điểm BĐVHX và thư viện của Dự án. Rất nhiều xã trước khi Dự án triển khai chưa hề có Internet, hoặc đã có đường truyền song người dân không có điều kiện sử dụng, vì thiếu điểm truy cập và thiếu máy tính. Trước khi BĐVHX và thư viện có Internet, người dân đến đấy chủ yếu để gửi thư, đọc sách báo. Tuy nhiên, kể từ khi có Internet, truy cập Internet đã trở thành mục đích ưu tiên nhất với 80% người dân. Tỷ lệ người dân đến bưu điện, thư viện để đọc sách báo giảm lần lượt còn 10,6% và 14,9%. Đặc biệt tại Trà Vinh, tỷ lệ truy cập Internet từ sau khi bưu điện/thư viện có Internet chiếm tới 83,7% đối với điểm bưu điện và 93,3% đối với thư viện. Đây cũng là tỉnh có sự chuyển biến rất rõ nét về mục đích khi tới các bưu điện/thư viện của người sử dụng. Điều này phản ánh nhận thức của người dân đối với máy tính và Internet đã có sự thay đổi rõ rệt.

Thông qua các hoạt động của dự án, đặc biệt là các hoạt động đào tạo, nhân viên quản lý tại các điểm BĐVHX và thư viện cũng nâng cao nhận thức về sử dụng Internet trong cộng đồng. Nhiều nhân viên từ chỗ hiểu được tác dụng của Internet đã chủ động tuyên truyền cho người dân địa phương thông qua những lần đi thu phí dịch vụ viễn thông, giới thiệu cho mọi người về hoạt động của dự án và phòng máy.

Dự án được triển khai đã góp phần quan trọng giúp người dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận dịch vụ. Máy tính và Internet đã không còn xa lạ với nhiều người dân.

Thưa ông, Dự án đã tạo ra những tác động trực tiếp nào lên đời sống người nông dân?

Có thể khẳng định dự án đã thực sự mang lại nhiều kết quả tốt ở các cộng đồng được triển khai. Chẳng hạn, tại Nghệ An, Dự án đã góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển phong trào học toán trực tuyến cho học sinh. Khi tiến hành khảo sát tại các BĐVHX có dự án ở Nghệ An, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến phong trào học toán trực tuyến của học sinh diễn ra sôi nổi. Nhiều trường hợp, cha mẹ là nông dân đã lặn lội đường sá xa xôi để đưa con đến BĐVHX học toán. Tôi còn nhớ trường hợp một gia đình người dân tộc Thái ở xã Mường Nọc, huyện Quế Phong (Nghệ An). Hàng tuần, cứ đến chủ nhật người mẹ lại đạp xe chở con đến bưu điện. Mẹ thì tra cứu thông tin về cách phòng tránh dịch bệnh liên quan đến gà, con trai thì cặm cụi học và giải toán trên trang web violympic.vn. Nhờ các thông tin về cách phòng tránh dịch bệnh cũng như kỹ thuật nuôi gà, cuối năm 2009 gia đình chị này đã xuất chuồng được hơn 100kg gà thịt, thu lãi gần 10 triệu đồng.

Người mẹ tâm sự ngoài trung tâm xã cũng có quán Internet nhưng đa phần trẻ em đến chơi game, rất tốn tiền và thời gian. Vì thế, chị đã chọn bưu điện vì ở đây có các cán bộ rất nhiệt tình hướng dẫn chị và cháu, hơn nữa ở đây môi trường lành mạnh, không có nhiều trẻ chơi game, chủ yếu là học sinh tới học toán và người dân đến đọc tin tức nên con cái có thể tập trung vào việc học.

Đó chỉ là một trong những câu chuyện mà chúng tôi thu lượm được từ những lần đi khảo sát thực tế tại các vùng triển khai. Thực sự, Dự án đã khuấy động cuộc sống người dân theo cách rất tích cực.

Dự án thí điểm đã để lại bài học kinh nghiệm gì cho dự án mở rộng?

Bài học kinh nghiệm lớn nhất chính là sự quyết tâm của các cấp lãnh đạo và sự phối hợp chặt chẽ giữa những người trực tiếp thực hiện Dự án và các Bộ, ngành, địa phương liên quan. Đây là Dự án liên quan đến rất nhiều đơn vị của các ban, ngành khác nhau, vì thế nếu không có sự phối hợp chặt chẽ sẽ không thể thành công. Dự án mở rộng dự kiến triển khai trên 40 tỉnh, có thể nói quy mô lớn gấp 15 lần so với dự án thí điểm, nên tính liên ngành, liên cấp càng rộng hơn, do đó sự phối hợp càng phải chặt chẽ hơn.

Ngoài ra, do đây là dự án đầu tiên BMGF tài trợ cho Việt Nam, và cũng là dự án viện trợ không hoàn lại từ tổ chức phi chính phủ nước ngoài đầu tiên được Chính phủ giao cho Bộ TT&TT thực hiện, nên tất nhiên sẽ có những khó khăn nhất định. Giải quyết được các khó khăn nảy sinh, cố gắng hoàn thành mọi việc đúng tiến độ của Dự án, chúng tôi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm cho Dự án mở rộng, từ khâu đàm phán với nhà tài trợ để hoàn chỉnh Đề xuất và văn kiện dự án đến các hoạt động truyền thông vận động, lắp đặt trang thiết bị, nội dung thông tin cung cấp lên trang web của Dự án (www.i4ra.vn) , từ đào tạo cho cán bộ thư viện và điểm BĐVHX, đào tạo cho các nhóm đối tượng dân cư, đánh giá tác động ánh hưởng, đến đấu thầu ký kết hợp đồng với các đối tác đủ năng lực thực hiện, tìm hiểu nhu cầu và thiết kế dịch vụ… Tất cả đều nhằm mục đích làm sao cho khẩu hiệu “Máy tính và Internet làm giàu thêm cuộc sống” thật sự thiết thực với người dân.

Ông có thể tóm tắt một số thông tin chính của dự án mở rộng?

Vào thời điểm này chúng tôi chưa được phép công bố chính thức các số liệu, thông tin về Dự án vì tất cả đang trong quá trình chuẩn bị. Dự kiến đến cuối tháng 8/2010 sẽ có kết quả.

Xin cảm ơn ông!

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 92 ra ngày 2/8/2010.