1. 46 năm về trước, vào tháng 9/1962, Chính phủ đã cử Đoàn thực tập sinh đầu tiên về máy tính điện tử của nước ta lên đường sang Liên Xô học tập, nghiên cứu, nhằm chuẩn bị cho việc ứng dụng máy tính điện tử trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Đất nước trong tương lai. Sự kiện này đã thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước, trong đó không thể không nhắc đến vai trò của GS. Tạ Quang Bửu, về vai trò và sức mạnh của tin học nói riêng và KHCN nói chung. Đó cũng có thể coi là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự ra đời và phát triển của ngành CNTT nước nhà.

Trong hoàn cảnh đất nước còn rất nhiều khó khăn, vừa khẩn trương xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa tập trung nguồn lực giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, những người làm tin học Việt Nam đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của anh em, bạn bè quốc tế từng bước, từng bước đưa máy tính điện tử và ứng dụng tin học về Việt Nam, vào trong những ngành, những lĩnh vực then chốt như quốc phòng, kinh tế, dân sinh... Đội ngũ những người làm tin học nước nhà, từ thủa ban đầu với 9 thành viên trong Đoàn thực tập sinh đã không ngừng mở rộng, lớn mạnh và trưởng thành.

2. Trong những cánh quân tiến về Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử của Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, có những người lính làm tin học và cả những cán bộ khoa học công nghệ ở các ngành, các lĩnh vực khác nhau, gọi một cách nôm na là "đội quân máy tính". Tuy nhiên, họ cùng có chung một nhiệm vụ là tiếp quản và khai thác các hệ thống máy tính điện tử của chính quyền và quân đội Sài Gòn để phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị - kinh tế - quân sự thời hậu chiến. Điều rất đáng suy nghĩ là, gác bỏ sang một bên ý thức hệ chính trị cùng tư tưởng "thắng - thua", những người làm tin học từ miền Bắc vào đã huy động rất tốt nguồn lực và trí tuệ của những người làm tin học miền Nam, để cùng nhau tiếp quản và sử dụng một cách hiệu quả những hệ thống máy tính hiện đại vào loại bậc nhất Đông Nam á thời bấy giờ vào những công việc bộn bề sau giải phóng. ở đây, họ cư xử với nhau một cách bình đẳng và coi nhau như những người làm khoa học, tư tưởng "hòa hợp dân tộc" đã được thể hiện khá rõ nét và chân thực.

Những cán bộ, chiến sĩ trong "đội quân máy tính" ngày ấy về sau đã trở thành những nhà lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp làm tin học Việt Nam. Nhiều người cũng đã trở thành những nhân tố chủ yếu góp phần quan trọng trong việc xây dựng ngành công nghiệp CNTT tại TP. HCM lớn mạnh như ngày hôm nay.

3. Hòa bình lập lại, non sông thu về một mối. Trong bộn bề khó khăn những năm 1970-1990, những người làm tin học Việt Nam không có nhiều điều kiện để phát triển và đóng góp cho công cuộc kiến thiết đất nước. Nhưng trong họ vẫn luôn tiềm ẩn sự say mê và năng lực sáng tạo. Tích tụ để rồi bùng nổ và lan tỏa mạnh mẽ, đầu những năm 2000, hàng loạt những chính sách và hành động quyết liệt nhằm thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT đã được Đảng và Chính phủ đề ra và triển khai khẩn trương. Có thể kể đến bản Chỉ thị 58/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ CNH, HĐH vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự cho đến hôm nay Nghị quyết 07/CP ngày 5/6/2000 của Chính phủ về xây dựng và phát triển ngành công nghiệp phần mềm (CNpPM) Việt Nam - bản nghị quyết dẫu còn nhiều ý kiến khác nhau về cách thức xây dựng, mục tiêu và tham vọng đặt ra nhưng đã tạo nền tảng cho sự ra đời và phát triển ngành CNpPM non trẻ nhưng đầy tiềm năng phát triển của chúng ta; Nghị định 55/CP ngày 23/8/2001 Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet với tư tưởng đột phá "Quản lý phải theo kịp với yêu cầu của sự phát triển", thay thế cho quan điểm "Quản lý được đến đâu thì mở ra đến đó"...

Chính những chính sách và khuôn khổ pháp lý mới này đã thổi một luồng gió mới cho sự phát triển của ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam, tạo bệ phóng vững chắc cho những bước tiến vượt bậc của CNTT Việt Nam trong những năm tiếp theo. Cũng từ đó, cộng đồng CNTT Việt Nam như được tiếp thêm những nguồn động lực mới. Họ hiểu rằng Đảng và Chính phủ đã giương cao lá cờ đầu làm định hướng phát triển, vì thế dẫu còn không ít khó khăn, trở ngại song cộng đồng CNTT Việt Nam vẫn tự tin tiến bước.

Đằng sau những chính sách, chủ trương mang tính đột phá như thế không thể không nhắc đến những con người tâm huyết với sự phát triển của CNTT nước nhà, họ nhìn ra được xu hướng phát của CNTT thế giới, lan tỏa sự say mê cho những đồng sự, dũng cảm bảo vệ những điều mà họ cho là đúng và hợp xu thế phát triển.

4. 46 năm sau, CNTT Việt Nam đã thuộc về (và nhất định như vậy) những thế hệ mới, những doanh nhân trẻ thế hệ 7X-8X và thậm chí là 9X. Số lượng doanh nghiệp CNTT từ những ngày đầu năm 2000 chỉ tính bằng con số hàng trăm thì giờ đây đã lên tới con số hàng ngàn, chục ngàn doanh nghiệp. Công nghiệp CNTT đã thể hiện vai trò của mình bằng những con số phát triển khá ấn tượng, ứng dụng CNTT ngày càng lan tỏa vào trong hệ thống chính quyền cũng như các doanh nghiệp. Nhưng chúng tôi có cảm giác "chất lửa" và "ngọn cờ tiên phong" trong phát triển của ngành CNTT không còn được thể hiện mạnh mẽ như những giai đoạn trước. Nếu thực vậy thì cũng là điều rất đáng suy nghĩ.

46 năm đã qua, CNTT Việt Nam song hành cùng lịch sử phát triển của đất nước, với rất nhiều cột mốc trong chặng đường phát triển. Trên chặng đường đó đã để lại biết bao nhiêu kỷ niệm, ghi dấu biết bao nhiêu gương mặt. Trong 31 số báo Bưu điện Việt Nam đã qua (từ số 96 đến số 126), chúng tôi không có tham vọng, và cũng biết là không thể có khả năng, ghi lại một cách chi tiết những kỷ niệm, khắc họa lại những chân dung đó. Chỉ mong rằng Chuyên mục "Sử ký Tin học Việt Nam" khép lại nhưng sẽ còn để lại những bài học đáng nhớ cho sự phát triển của CNTT nước nhà trong tương lai.

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 126 ra ngày 19/12/2008