Tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm qua (khoảng 40%/năm) của hơn 40 doanh nghiệp cổ phần khối xây lắp thuộc Tập đoàn VNPT đã đột ngột giảm xuống chỉ còn 18% trong 6 tháng đầu năm 2008.

Ông Nguyễn Đức Đồng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật viễn thông (TST), một trong hơn 40 doanh nghiệp cổ phần khối xây lắp thuộc VNPT nói: “Năm 2007, TST đạt doanh thu 152 tỷ đồng, nhưng 6 tháng qua chỉ đạt 39 tỷ đồng và lợi nhuận khiêm tốn ở mức 135 triệu đồng. Nếu tính tổng giá trị hợp đồng xây lắp, bảo dưỡng, cung cấp sản phẩm, thiết bị thì cũng đạt 120 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhìn chung công ty đang rất khó khăn, thu nhập của hơn 200 CBCNV từ đầu năm đến nay đã giảm so với năm ngoái”.

Cũng theo nhận xét của ông Đồng, trong 152 tỷ đồng doanh thu năm 2007 của TST, có khoảng 30 tỷ đồng thu được từ thị trường ngoài VNPT. Song, thị trường chủ yếu của TST cũng như các doanh nghiệp khối công nghiệp BCVT thuộc VNPT vẫn là trong tập đoàn, việc vươn ra chiếm lĩnh thị trường ngoài VNPT như Viettel, EVN Telecom… hầu như không đáng kể.

Được biết, hai trong số những nguyên nhân dẫn tới khó khăn của TST cũng như các doanh nghiệp trong khối công nghiệp xây lắp của VNPT là thiếu vốn, bị chiếm dụng vốn (hiện TST bị các đơn vị thành viên của VNPT nợ 20 tỷ đồng, PTIC bị nợ 200 tỷ…) và thị trường đang bị thu hẹp dần (VNPT tiếp tục cắt giảm đầu tư để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh), đồng nghĩa với cạnh tranh ngày càng mạnh. “Tại khu vực phía Bắc, thường xuyên có 12 công ty tham gia đấu thầu vào các dự án đầu tư xây lắp của VNPT. Và để thắng thầu, có doanh nghiệp đã hạ giá thầu đến 40% so với giá thị trường. Giả sử, trong bối cảnh lạm phát, lợi nhuận đạt thấp, chỉ khoảng 20% so với trả lãi tín dụng 20%/năm, rồi bị chiếm dụng vốn thì coi như nhà thầu lỗ”, ông Nguyễn Đức Đồng nói. Từ thực tế này, có doanh nghiệp đặt câu hỏi: Với mức bỏ thầu giảm giá tới 40% như vậy thì liệu chất lượng công trình có được đảm bảo?

Trao đổi với Báo BĐVN, ông Đinh Minh Sơn, Phó Trưởng Ban Khoa học công nghệ - Công nghiệp VNPT cho biết: “VNPT hiện có hơn 40 doanh nghiệp cổ phần xây lắp, đều có mức vốn tương đối nhỏ. Nhiều năm qua các doanh nghiệp này luôn đạt tốc độ tăng trưởng 40%/năm, nhưng hiện rất khó khăn. Nguyên nhân do VNPT chuyển hướng đầu tư từ đầu tư nhiều vào mạng cố định, mạng ngoại vi, cáp đồng sang đầu tư chủ yếu vào mạng di động, mà giá trị khối lượng công trình đầu tư vào mạng di động nhỏ hơn nhiều so với mạng cố định”.

Trong bối cảnh hiện nay, khi Chính phủ chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát (được dự đoán sẽ kéo dài hai năm tới) như triệt để tiết kiệm, cắt giảm hoặc giãn tiến độ các dự án đầu tư… thì đồng nghĩa với việc thị trường của những doanh nghiệp xây lắp ngày càng bị thu hẹp. Và bài toán để tháo gỡ khó khăn cho hơn 40 doanh nghiệp cổ phần xây lắp càng khó có câu trả lời.

“Cơ chế nhà nước không ủng hộ việc các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn hỗ trợ lẫn nhau, thậm chí quy định doanh nghiệp cổ phần có hơn 30% vốn đóng góp của tập đoàn sẽ không được phép tham gia đấu thầu vào các dự án đầu tư của tập đoàn. Vì thế, VNPT không thể đưa ra giải pháp hỗ trợ nào cho hơn 40 doanh nghiệp cổ phần xây lắp của mình được. Do vậy, chính bản thân các doanh nghiệp đã xác định cho mình con đường đi từ nhiều năm nay là phải tự thân vận động, tự bươn chải và cạnh tranh. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp công nghiệp càng phải triệt để tiết kiệm để giảm chi phí và tìm cách chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh”, ông Đinh Minh Sơn nói.

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 65 ra ngày 30/7/2008