![]() |
| Bản chất của quy định sở hữu chéo không phải là Nhà nước kiểm soát vấn đề sở hữu mà là kiểm soát môi trường cạnh tranh. Ảnh: THANH HẢI |
Tại sao trong Nghị định 25 lại quy định hạn chế về sở hữu chéo vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thông khác cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông, thưa ông?
Nghị định 25 hướng dẫn Luật Viễn thông đưa ra hạn chế sở hữu chéo này nhằm mục đích đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Hiện nay, Bộ TT&TT chưa quyết định dịch vụ nào là dịch vụ cần quản lý tránh sở hữu chéo nhưng chắc chắn dịch vụ đầu tiên cần phải quản lý là dịch vụ di động và dịch vụ này ảnh hưởng đầu tiên đến VNPT.
Thực tế cho thấy, một ông chủ có mặt ở hai, ba cuộc họp hội đồng quản trị của hai, ba công ty khác nhau. Lúc đó, các phương án sản xuất kinh doanh được đưa ra nếu có tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này với nhau thì ông chủ này có thể chỉ bỏ phiếu để ủng hộ một chứ không hoàn toàn ủng hộ hai hoặc ba doanh nghiệp cạnh tranh với nhau. Đây là hành vi hạn chế cạnh tranh. Thông lệ trên thế giới cũng có những quy định về hạn chế chéo này để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, nhất là trong giai đoạn đầu mở cửa thị trường. Tuy nhiên, việc kiểm soát sở hữu là rất khó khăn, nhất là trong tình hình hiện nay, các doanh nghiệp sở hữu chéo rất nhiều. Ví dụ như một doanh nghiệp nước ngoài tên là ông A ở đất nước A, nhưng một ông B ở đất nước B có khi lại là con của ông A kia. Thành ra việc xác định ông nào là bố ông nào, ông nào là con ông nào rất khó. Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước không đi sâu sát việc đó nữa vì nó rất phức tạp và trường hợp của VNPT được cụ thể hóa như vậy trong Nghị định này.
Thực tế hiện nay, VNPT đã có một mạng di động của mình rồi, sau đó lại sở hữu thêm một mạng khác là MobiFone, cho nên cần phải có lộ trình thoái vốn xuống dưới 20%. Việc hạn chế sở hữu chéo 20% ở đây là áp dụng cho công ty mẹ VNPT, các công ty con VNPT hoàn toàn có quyền sở hữu cổ phần MobiFone - miễn đây là công ty hạch toán độc lập. Vấn đề ở đây không phải là Nhà nước kiểm soát tỷ lệ sở hữu mà là kiểm soát cái để duy trì doanh nghiệp. Khi công ty con của VNPT đầu tư vào MobiFone cũng không phải nghe theo công ty mẹ vì họ phải đảm bảo hiệu quả đầu tư của chính mình. Như vậy, bản chất của quy định sở hữu chéo không phải là Nhà nước kiểm soát vấn đề sở hữu mà là kiểm soát môi trường cạnh tranh. Ví dụ như hiện nay, cả hai mạng di động MobiFone và VinaPhone đều là của VNPT. Nếu MobiFone có nhiều sáng kiến cạnh tranh tốt, nhưng vì cạnh tranh như thế mà có thể gây ảnh hưởng tới VinaPhone thì có thể VNPT không phê duyệt. Đây là bản chất vấn đề chứ không phải bản chất là VNPT sở hữu quá nhiều trong MobiFone.
Cơ sở nào để đưa ra tỷ lệ sở hữu chéo không quá 20% thưa ông?
Khi cân nhắc tỷ lệ 20% về sở hữu chéo vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thông, Bộ TT&TT cũng đã phối hợp với các bộ ngành liên quan khác, học hỏi một số kinh nghiệm các nước. Thông thường các nước lấy tỷ lệ không chế sở hữa chéo là 10% đến 30%. Việt Nam chọn tỷ lệ là 20% là theo kinh nghiệm của Hàn Quốc trong thời gian đầu họ mở cửa cạnh tranh. Căn cứ môi trường hoạt động thực tế hiện nay, chúng tôi thấy tỷ lệ 20% là phù hợp. Tỷ lệ này cũng được các cơ quan bộ ngành liên quan phản biện rất nhiều, nhưng cũng nhất trí đưa ra tỷ lệ là 20%.
Thời gian nào thì VNPT phải áp dụng hạn chế sở hữu chéo theo Nghị định 25?
Tại điều cuối cùng của Nghị định 25 có quy định: Riêng đối với các tập đoàn nhà nước thì Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định thay đổi tổ chức như thế nào phù hợp với kinh tế Nhà nước.
Ngay sau khi Nghị định này có hiệu lực, Bộ TT&TT sẽ có văn bản yêu cầu VNPT tự chủ động đề xuất lộ trình thoái vốn ở MobiFone hoặc VinaPhone. Trên cơ sở các phương án đề xuất của VNPT, Bộ TT&TT sẽ thẩm định trình lên Thủ tướng Chính phủ phê duyệt lộ trình cho VNPT thực hiện. Tôi cũng không thể biết cụ thể lộ trình là bao lâu, vì không thể quyết định ngay trong 1, 2 tháng được, nhưng cũng không thể chấp nhận lộ trình này sẽ kéo dài dăm ba năm.
Xin cảm ơn ông!
Bài viết đã đăng trên báo Bưu điện Việt Nam số 50 ra ngày 27/4/2011.
